Giống như bao thị trường tích hợp công nghệ khác, thị trường Edtech dù chỉ là một thị trường non trẻ ở Việt Nam nhưng nó lại có tốc độ phát triển và lớn mạnh khủng khiếp. Ở Việt Nam, hiện nay thị trường này được ước tính sẽ vượt 3 tỷ USD vào năm 2023 và nằm trong top 10 thị trường EdTech có tốc độ tăng trưởng lớn nhất thế giới. Tổng vốn đầu tư vào các start-up trong lĩnh vực này tại Việt Nam đã đạt 20,2 triệu USD.
Vậy, điều gì khiến cho thị trường này trở nên màu mỡ như vậy?
Chỉ trong một thời gian ngắn khoảng 5 năm đổ lại, chúng ta thấy rất nhiều doanh nghiệp edtech mới ra đời, đặc biệt là cho trẻ em, có thể nhắc đến Teky – doanh nghiệp đào tạo IT cho trẻ em của chị Đào Lan Hương, hoặc Palfish, nền tảng đào tạo tiếng anh ưu việt cho trẻ em 1 kèm 1 của anh Khổng Minh Thái.
Điều quan trọng nhất có lẽ đến từ tính “ưu việt” của thị trường này đối với người tiêu dùng. Sau đó phải xét đến tính “lợi nhuận” của nó đối với các doanh nghiệp. Về tính ưu việt với người dùng
Tính Ưu Việt
Đầu tiên nếu xét về tính ưu việt thì chắc chắn không cần nói nhiều, chúng ta giờ đây chỉ cần ngồi tại nhà mà có thể lĩnh hội đủ thứ kiến thức trên đời một cách chi tiết và hiệu quả nhất. Từ đó, biến trẻ em nói riêng và chúng ta nói chung thành những “công dần toàn cầu”.
Điều này tức là một trò chơi của trẻ em châu Phi hoặc là đến từ Mỹ, cuộc sống rất khác nhau nhưng nó cũng có điểm tương đồng đối với trẻ em Việt Nam. Hiểu một cách đơn giản, công dân toàn cầu có thể đến từ bất kỳ đâu, không phân biệt quốc gia, quốc tịch, tôn giáo; có sự thấu cảm và hiểu về các vấn đề chung, từ đó họ sẽ hiểu và đồng cảm với những con người khác nhau có cuộc sống khác nhau.
Theo bà Nguyễn Phương Dung, CEO cổ phần 1Edtech giáo dục công dân toàn cầu sẽ bao gồm các hoạt động hỗ trợ để tăng cường ba yếu tố, đó là nhận thức, hành vi, tình cảm xã hội cho trẻ nhỏ, để trẻ có thể đạt được những năng lực của công dân toàn cầu. Đơn cử như gia tăng tiếp xúc về mặt quốc tế, tăng sự giao lưu kết nối xã hội cho trẻ em, hay cho trẻ học những ngôn ngữ mới. Điều này có thể thấy rõ ở một số nền tảng như PalFish, khi nền tảng này đảm bảo khả năng học tập có hiệu quả với công nghệ AI 5.0.
Tính lợi nhuận
Theo tính toán, năm 2019, thị trường Edtech Việt Nam ước tính đạt trị giá 2 tỷ USD. Sang năm 2020, thị trường Edtech Việt Nam đã tăng vọt lên 3 tỷ USD nhờ sự bùng nổ của xu hướng học trực tuyến. Theo báo cáo Công nghệ giáo dục Việt Nam 2021 do Edtech Agency phối hợp cùng Công ty Tư vấn Quản lý OCD thực hiện, thị trường EdTech Việt Nam đang được đánh giá vô cùng tiềm năng, hút dòng vốn lớn từ giới đầu tư với tổng vốn đầu tư vào các startup lên 20,2 triệu USD, nằm trong top 10 thị trường Edtech có tốc độ tăng trưởng lớn nhất thế giới với tỉ lệ khoảng 44,3%.
Một trong những cái tên được nhắc nhiều trên thị trường EdTech Việt Nam là tập đoàn FPT. Đây là nhà cung cấp CNTT trong nước có sức cạnh tranh trên thị trường EdTech với hàng loạt ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), mang đến những trải nghiệm học tập phù hợp với nhu cầu của từng học sinh cùng kho nội dung khổng lồ. FPT hiện đang cung cấp cho khoảng 40.000 trường học với 3 triệu tài khoản hoạt động duy trì.
Từ những số liệu trên, thử tưởng tượng với tốc độ tăng trưởng khủng khiếp đến vậy thì liệu có mấy mà Edtech trở thành xu hướng giáo dục chủ chốt? Hãy để tương lai trả lời.
Màu sắc là thứ khiến tớ yêu Marketing. Vì vậy, mở đầu cho năm Canh Tý, tớ xin chia sẻ những thứ tớ biết và research được về Màu sắc trong Marketing nhaa.
Tâm lý học màu sắc là gì?
Tâm lý học màu sắc là việc nghiên cứu về mối liên hệ giữa màu sắc và hành vi của con người. Nó mang mục đích quyết định màu sắc ảnh hưởng đến những quyết định hằng ngày của chúng ta như thế nào, ví dụ như những vật phẩm chúng ta mua. Ý nghĩa của màu sắc có thể có ảnh hưởng tới lý do vì sao chúng ta thích màu này hơn màu kia. Những màu sắc giống nhau cũng có thể có ý nghĩa khác nhau, phụ thuộc vào quá trình chúng ta lớn lên, giới tính, nơi cư trú, giá trị và rất nhiều yếu tố khác nữa.
Vậy tại sao màu sắc lại quan trọng trong Marketing?
Màu sắc kích thích cảm xúc cực mạnh. Và nó vẫn đúng khi cậu chọn màu sắc cho công việc kinh doanh. Lựa chọn đúng màu sắc trong sự nỗ lực làm marketing sẽ góp phần giúp cho thương hiệu của bên cậu nổi bật hơn hẳn trước đám đông, hoặc cũng có thể khiến nó hoà nhập với đám đông. Sử dụng màu sắc một cách có chiến lược trong quá trình làm Marketing, cậu có thể khiến cho đối tượng mục tiêu của mình nhìn thấy cái cậu muốn họ nhìn thấy, giúp họ hiểu được cái mà cậu đang mong muốn được thấu hiểu. Đó là lí do vì sao thấm nhuần được tâm lý học màu sắc sẽ cực kì hữu ích cho những nỗ lực làm Marketing của cậu và đồng nghiệp. Bởi nó giúp các cậu phác hoạ được thương hiệu của mình theo cái cách mà các cậu muốn.
Các marketers có thể sử dụng màu sắc để tác động lên cái cách con người ta suy nghĩ và hành động về phía một thương hiệu, và cách họ tiếp cận bất kì luồng thông tin nào. Sự lựa chọn màu sắc có thể khiến người ta nhận ra cái gì quan trọng, cái gì không. Và đó là lý do mà content marketer nào cũng cần hiểu về sự khác nhau giữa các sắc màu hết!
Các màu sắc khác nhau như thế nào?
MÀU ĐỎ
Màu đỏ là công cụ cực kì đắc lực trong việc thu hút sự chú ý. (Còn mặc nguyên cây đỏ đứng trước mặt crush có phản tác dụng không thì tớ không biết nữa.) Ý nghĩa của màu đỏ luôn gắn liền với niềm vui, sự đam mê, năng lượng, hành động và cả sự nguy hiểm (mấy cái biển báo giao thông chẳng hạn). Hãy cùng nhau lục lại trí nhớ một chút, cậu có để ý thấy rằng có khá nhiều brands dùng màu đỏ cho cái nút “đặt hàng ngay”, một số brands khác thì dùng bao bì màu đỏ để nằm nổi bật trên kệ hàng của đại lý, của Circle K,… Trong tâm lý học màu sắc, màu đỏ là mãnh liệt nhất. Bởi lẽ đó mà nó có khả năng kích thích cảm quan mạnh mẽ nhất luôn. Nhưng màu đỏ cũng có thể gây ra nguy hiểm, nên cậu hãy dùng nó “tiết kiệm” thôi nha.
Đỏ là màu chủ đạo của nhiều ông lớn như Coca Cola và YouTube. Đỏ có khả năng kích thích vị giác, khiến cậu thèm ăn, thèm uống, nên Coca Cola chọn màu đỏ trong suốt quá trình xây dựng thương hiệu cũng là điều không khó hiểu. Coca Cola còn dùng từ như happiness trong thương hiệu của mình, nên họ dùng màu đỏ để vun đắp niềm vui. YouTube cũng dùng màu đỏ để thể hiện sự vui vẻ khi xem các videos online. Chú ý là, một phần logo chiếm màu đỏ chính là dấu hiệu để kích thích người ta hành động. Nó kích thích cậu click vào xem hết video này đến video khác và hết luôn một ngày.
MÀU CAM
Màu cam đại diện cho sự sáng tạo, sự phiêu du, sự nhiệt huyết, sự thành công và cả sự cân bằng. Màu cam sẽ thêm thắt một thìa vui vẻ vào bức tranh, vào trang web hay vào bất kì chất liệu, phương tiện làm marketing nào các cậu đang thực hiện. Mặc dù màu cam cũng là một màu có tính mãnh liệt cao, nhưng chưa đến mức độ như màu đỏ. Có nhiều marketers vẫn sử dụng màu cam để kêu gọi hành động hay để ở một góc của trang web mà họ đang muốn gây chú ý.
MÀU VÀNG
Màu vàng quay quanh ánh nắng mặt trời rực rỡ. Nó kích thích sự vui vẻ, sự lạc quan, sự tích cực và mùa hè, nhưng nó cũng chỉ cái bề ngoài giả dối và cảnh giác. Có một số thương hiệu chọn màu vàng tươi vui làm background hoặc phần viền của thiết kế website. Cậu cũng có thể sử dụng màu vàng cho cái nút “freeshipping” trên website bán hàng nếu màu vàng có thể hòa hợp với các người anh em khác. Một vài lần chạm đến màu vàng có thể khiến những người ghé thăm website của cậu cảm nhận là cửa hàng, công ty của cậu toàn sự tích cực.
Logo của IKEA có màu vàng. Vậy mua đồ nội thất thì liên quan gì đến kích thích sự vui vẻ, tích cực và lạc quan? Thử hình dung nhé, khi cậu quyết định mua sắm nhiều đồ nội thất cho phòng trọ của mình, thì ít nhiều cậu phải cảm thấy chắc chắn với lựa chọn nhà cửa của mình, và cậu đang thấy cực kì vui vẻ vì chủ nhà chẳng giới hạn giờ giấc, điện nước thì lấy giá dân, khu cậu ở gần văn phòng của nhiều agency to đùng, cậu bước ra khỏi cửa là có vô vàn hàng ăn uống, shop quần áo nổi tiếng trên Instagram. Còn đối với nhiều người, họ mua sắm nội thất khi chuyển đến nhà mới. Mà thử nghĩ xem, một cặp vợ chồng 30 tuổi mua được căn chung cư 5 tỷ ở Hà Nội, quá xịn sò đi chứ, không hạnh phúc và tích cực mới lạ.
MÀU HỒNG
Các thương hiệu mà nhắm tới khách hàng mục tiêu là phụ nữ thường sẽ dùng màu hồng. Trong tâm lý học màu sắc, màu hồng là màu của nữ quyền, sự khôi hài, sự “chưa trưởng thành” và tình yêu vô điều kiện. Một số nhãn hàng đã và đang sử dụng màu hồng cho bao bì sản phẩm, đặc biệt là quà tặng cho phái nữ. Trong khi đó nhiều nhãn hàng lại highlight màu hồng trên logo, thiết kế website hoặc nhấn mạnh thông điệp truyền thông.
MÀU XANH LÁ CÂY
Xanh lá cây có sự kết nối cực kì chặt chẽ với tự nhiên và tiền bạc. Quá trình lớn lên, sự phì nhiêu, sức khỏe và sự phóng khoáng là những ý nghĩa tích cực của sắc màu này. Xanh lá cây cũng mang một vài nét nghĩa tiêu cực như là sự ganh ghét chẳng hạn. Nếu cậu làm trong lĩnh vực sức khỏe hay fitness thì có thể cậu nên cho thêm một vài sắc xanh vào cửa hàng online của mình. Ví dụ như ảnh nền trang web hay logo chẳng hạn.
MÀU XANH DƯƠNG
Màu xanh dương là màu của biển, màu của trời cao. Sự ổn định, sự hài hòa, hòa bình, bĩnh tĩnh và sự tin tưởng là những cảm giác mà khách hàng của cậu có thể cảm nhận nếu như bộ nhận diện thương hiệu của cậu mang sắc xanh chủ đạo. Ngược lại, màu xanh dương cũng có thể mang một số nét nghĩa tiêu cực như là sự chán nản, buồn bã và có thể đem đến cảm giác lạnh lẽo. Xanh dương có thể được dùng trong thiết kế logo của website. Một số người bán hàng đã dùng màu xanh làm màu sắc chủ đạo trong giấy bảo hành, giấy chứng nhận độ tin cậy và nút “freeshipping” để nhấn mạnh về độ tin cậy trong thương hiệu của mình.
Các ông lớn trong làng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Skype đều dùng màu xanh dương làm màu sắc chính trong thương hiệu của mình. Tuy Facebook thì gắn liền với sự ồn ào và scandals nhưng quanh đi quẩn lại, Facebook vẫn là thứ chúng ta dành nhiều thời gian vào nhất.
MÀU TÍA
Màu tía là màu của sự chanh sả. Màu tía gắn liền với quyền lực, tầng lớp quý phái, sự sang trọng, sự tự do và sự duy linh. Nhưng mà nhớ là đừng dùng màu này nhiều quá, nếu không nó sẽ gây phản tác dụng. Một số người sẽ cảm thấy việc dùng màu tía “quá liều” là kiêu căng đấy. Cậu có thể thêm một ít sắc tía vào thiết kế website như là mục “freeshipping”, logo và màu nhấn.
MÀU TRẮNG
Màu trắng chỉ sự ngây thơ, sự tốt bụng, sự sạch sẽ và sự khiêm tốn. Hãy nhớ rằng, đây chỉ là sự định nghĩa của các nền văn hóa Bắc Mỹ thôi nhé. Ở một số nơi khác trên thế giới, màu trắng mang ý nghĩa ngược lại. Có thể cậu sẽ muốn ghi nhớ nét nghĩa phù hợp với khách hàng mục tiêu của mình thôi. Màu trắng cũng đề cập đến một số thứ không tích cực cho lắm, là sự cằn cỗi và sự giá lạnh. Ở các trang thương mại điện tử, màu trắng thường là màu được tin dùng nhất. Cậu có thể dùng nó làm background của hình ảnh sản phẩm. Trang của cậu sẽ là nền trắng và font đen, bởi vì font đen nền trắng là sự phối hợp hoàn hảo nhất để chống loá khi đọc. Một ông lớn sử dụng màu trắng trong Marketing thì phải kể đến Adidas.
MÀU ĐEN
Đen là một màu phổ biến trong thương mại. Đen chỉ sự huyền bí, sự quyền lực, sự quý phái và sự tinh vị. Nhưng ngược lại, đen cũng chỉ những xúc cảm không mấy tích cực như là sự buồn bã hay tức giận. Có nhiều hãng thời trang dùng màu đen là màu chủ đạo trong logo. Màu đen lại còn là màu đứng top về sự dễ đọc. Một vài nhãn hàng sử dụng ảnh đen trắng cho banner hoặc icon để tạo nên một tone xác định và lâu dài. Ông lớn trong ngành thời trang dùng màu đen thì là Chanel, Nike,…
This is the first post on my new blog. I’m just getting this new blog going, so stay tuned for more. Subscribe below to get notified when I post new updates.
The biggest mistake we usually make when working in the field of marketing and advertising is thinking that people around the globe all deeply care about advertising like the way we do.
In recent years, the word Marketing has become extremely popular with the young as a trendy and interesting field for us all to pursue. Unlike the aridity of financial reports, marketing and advertising campaigns in particular bring us to the world where people talk about more interesting things namely creativity, psychology, consumer insights, buying behaviors, etc. It is undeniable that marketing is the field that closely relates to our daily life the most, probably that’s why we love marketing and so many people would like to work as a marketer regardless of their backgrounds.
Ignoring my prolix beginning, now I’ll focus on the main topic – the title of this blog. Why we should be an ordinary human being, not giving a f*ck to advertising and communications?
After several years of finding our true-selves and the major that might be the most suitable with our abilities and interests, the first thing we do is undoubtedly surrounding our life with it as much as possible by stricking up the relationships with friends and predecessors studying or working in this field, following related fanpages, joining related groups on social media platforms and researching credible websites to read. For instance, when we live in a world where everyone you know all talks about marketing from real life to social media. Everyday, we will hear, we will see some talk about 4Ps, some talk about facebook ads, some talk about SEO mindset, some analyze the latest TVC of Aba or Grab, others dissect How Starbucks applies SWOT model in their business. As a result, we misunderstand that all human beings on the world deeply care about marketing like the way we do without noticing that the Earth is big and our community is just a part of the whole diversified world. Correspondingly, sometimes we make contents and ads with a hope that it will become viral and be cared by everyone, but sadly that, ordinary humans don’t pay as much attention to advertising as we may think.
Before spending time learning marco-knowledge in this field, why don’t we pause for a while, to put ourselves in normal humans’ shoes? Give myself as a typical example, the version when I don’t care about marketing. I frequently feel awkward when an ad appears while I’m enjoying a funny clip on YouTube, I try to skip it as soon as possible though its length is just 20 seconds. I never give a sh!t to how emotional and meaningful the TVCs of Grab are until too many people discuss about them on Marketing community groups. When using my personal vehicles on the road, I never pay attention to the print ads on pedestrian bridge until there is a post on social media talking about it. I don’t think the fonts and the sizes of words and numbers designed on a poster, print ad, billboard or social media post are important because I don’t wanna spend my time on unnecessary things like this (it doesn’t mean that I disapprove the importance of them because they affect our psychology directly and normal humans don’t realize it.)
After all, to recap what I mean in this blog, before becoming a great marketer and advertising campaign maker, we should be an outstanding ordinary human being. Think that we are not marketer, we don’t give a sh!t to marketing, we just think about products, purchasing and brands in the simplest way. Cause advertising isn’t made for marketers, it is made for ORDINARY HUMAN BEINGS.
Mô hình Truth, Tension, Motivation là một mô hình giúp diễn đạt insight của khách hàng. Một insight tốt của khách hàng sẽ bao gồm cả ba yếu tố trên, cụ thể là Sự thật không thể chối cãi (truth), Mâu thuẫn (Tension) và Motivation (Động lực mạnh mẽ).
Vậy đầu tiên, insight là gì?
Customer insights (hay còn được gọi là insight) là các “sự thật ngầm hiểu” diễn giải về hành vi và xu hướng của khách hàng, giúp doanh nghiệp có thể thấu hiểu một cách sâu sắc mong muốn và nhu cầu của họ.
Đây là ưu tiên số một trong việc triển khai một chiến dịch Marketing thành công, và đảm bảo cho sự phát triển, tăng trưởng của doanh nghiệp. Insight hay có thể là niềm khơi gợi một sự thật về khách hàng, luôn có sẵn ở đó nhưng chưa ai khai thác, từ đó đưa ra những chiến dịch, hành động nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng, tăng độ nhận diện cho thương hiệu về tăng doanh thu bán hàng cho doanh nghiệp.
Điều kiện của insight?
Không phải là sự thật hiển nhiên
Insight không phải sự thật hiển nhiên, Insight là “sự thật ngầm hiểu”. Đây là điều mà khách hàng chưa bao giờ nói ra, hay thậm chí họ chỉ vô thức nhận ra, công việc của chúng ta là tự mình tìm ra nó. Sự thật hiển nhiên có thể tìm ra được sau một quá trình quan sát, nhưng sự thật ngầm hiểu thì không như vậy, ta cần cả một quá trình và nhiều công sức để tìm ra nó. Từ sự thật hiển nhiên, ta có thể đi đến sự thật ngầm hiểu sau thật nhiều những câu hỏi “vì sao?”. Vậy nên, chúng ta cần theo dõi khách hàng và phát hiện những lý do và động lực đằng sau hành vi của người tiêu dùng.
Insight không chỉ đến từ dữ liệu
Thu thập dữ liệu là một bước vô cùng quan trọng để tìm ra insight. Tuy nhiên thu thập dữ liệu chỉ có thể ra data và sự thật hiển nhiên, những bước đầu để tìm ra insight chứ không phải là insight. Vấn đề cơ bản của marketer là biến data trở nên cần thiết hơn, khai thác và phân tích dữ liệu để tìm kiếm insight có thể biến thành hành động. Tóm lại, Marketer có thể có rất nhiều data chi tiết về khách hàng, đó là sự thật về khách hàng, nhưng không có nghĩa núi dữ liệu khổng lồ sẽ đem lại một insight hay.
Dựa trên insight đó có thể đưa ra được hành động thực tế
Tất nhiên, một insight tốt phải có thể áp dụng được vào thực tế. Những gì chỉ có thể tồn tại trên sách vở mà không thể đem vào thực hiện đều là những điều phi thực tế. một insight hay phải đủ độc đáo để khiến khách hàng hành động, khiến họ thay đổi hành vi, khiến họ có thể tương tác với chiến dịch, từ đó gia tăng tỉ lệ chuyển đổi cho doanh nghiệp. Nói cách khác, đến mục đích cuối cùng vẫn là bán được hàng.
Mô hình Truth, Tension, Motivation
Một insight có đủ cả 3 yếu tố truth, tension, motivation thường sẽ là một insight tốt. Nó có sự thật người thương hiệu hiểu về người tiêu dùng, có những mâu thuẫn thầm kín khiến họ gặp vấn đề và có cả động lực nào của họ để thương hiệu biết điểm đánh vào khiến họ bị ảnh hưởng mạnh nhất.
Mô hình Truth Tension Motivation
Tóm lại là trong insight của người tiêu dùng cần phải có một sự thật của người tiêu dùng mà không thể chối cãi. Có cả một vấn đề của người tiêu dùng, vấn đề này là một thứ nút thắt ẩn giấu trong tâm trí người tiêu dùng chưa thể tự giải quyết được và chúng ta sẽ “gỡ nút thắt” ấy giúp người tiêu dùng.
Ngoài ra, một insight có đủ cả 3 yếu tố thường sẽ là insight tốt. Nhưng không bắt buộc một insight tốt chứa cả motivation và tension, chỉ có một trong hai vẫn có thể là một insight tốt được. Nhưng chắc chắn phải có một trong hai.
Ví dụ về mô hình
Tiger – Uncage
Quyết tâm xây dựng thương hiệu cho Tiger thành “Biểu tượng bia của người Châu Á”, Heineken Asia–Pacific (Heineken APAC) đã tung ra chiến lược tái định vị thương hiệu đầy tham vọng cho Tiger Beer mang tên “Uncage”. Với insight hiểu rõ về giới trẻ, Tiger quyết định nhập cuộc chơi. Thương hiệu này hiểu rằng, thế hệ trẻ Châu Á đang dần chuyển mình từ những thế hệ nhút nhát không dám vươn ra thế giới thành một thế hệ mới tự do và sáng tạo hơn. Tuy nhiên, vẫn có những rào cản lớn ngăn các bạn bùng nổ hết mình với cái tôi tuyệt vời nhất. Họ luôn sống với cái ‘gông’ của chính mình để phù hợp với mong đợi của gia đình, bạn bè và thuần phong mỹ tục nơi họ sinh sống.
Truth: Thế hệ trẻ Châu Á đang dần chuyển mình từ những thế hệ nhút nhát không dám vươn ra thế giới thành một thế hệ mới tự do và sáng tạo hơn.
Tension: Tuy nhiên, vẫn có những rào cản lớn ngăn các bạn bùng nổ hết mình với cái tôi tuyệt vời nhất. Họ luôn sống với cái ‘gông’ của chính mình để phù hợp với mong đợi của gia đình, bạn bè và thuần phong mỹ tục nơi họ sinh sống.
Motivation: Họ luôn muốn chứng tỏ bản thân, bùng nổ hết mình.
Samsung – Look at me campaign
Đối tượng mục tiêu của chiến dịch này là các bậc phụ huynh có con nhỏ mắc chứng tự kỷ. Họ là nhóm đối tượng đã quá quen thuộc với công nghệ cao và luôn tìm mọi cách tốt nhất để biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn cho đứa con yêu quý của họ. Theo những dữ liệu thu thập được, Samsung hiểu rằng những trẻ em mắc tính tự kỷ cực kì thích tương tác với các thiết bị kỹ thuật số. Do đó, Samsung bắt đầu “cuộc chơi” của mình. Đó cũng chính là insight mà Samsung ngầm hiểu, từ đó đưa ra các kênh phù hợp thu hút sự chú ý của các bậc phụ huynh và các em bé tự kỷ.
Truth: Samsung hiểu rằng những trẻ em mắc tính tự kỷ cực kì thích tương tác với các thiết bị kỹ thuật số.
Motivation: bậc phụ huynh là nhóm đối tượng đã quá quen thuộc với công nghệ cao và luôn tìm mọi cách tốt nhất để biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn cho đứa con yêu quý của họ.
OMO – Dirt is good
Những bà mẹ tại các thị trường đang phát triển và mới nổi tại Châu Á vẫn thường tin rằng:
Bẩn là không tốt
Cho phép những đứa trẻ vấy bẩn là điều không tốt và nó mang lại ý nghĩa tiêu cực cho trẻ.
Mẹ phản đối chất bẩn và mọi thứ khiến họ xem là mất vệ sinh với gia đình.
Phải có điều gì đó khiến cho việc vấy bẩn trở nên dễ hiểu và dễ chấp nhận hơn đối với những bà mẹ ở khu vực châu Á khó tính. Do đó, OMO đem đến một insight vô cùng sáng tạo “Bẩn là tốt” – bởi các bé sẽ không ngần ngại vui chơi học hỏi, không ngại lấm bẩn, chúng mới có thể rút ra được những bài học quý giá từ cuộc sống này.
The insight: Mẹ biết lấm bẩn là cách để con khám phá và tiếp thu những bài học quý giá trong cuộc sống, thế nhưng mẹ rất ngại phải giặt những vết bẩn cứng đầu.
Truth: Mẹ biết lấm bẩn là cách để con khám phá và tiếp thu những bài học quý giá trong cuộc sống.
Tension: Mẹ biết, nhưng mẹ rất ngại phải giặt những vết bẩn cứng đầu.
Motivation: Mẹ muốn con khôn lớn bằng cách khám phá và tiếp thu những bài học quý giá trong cuộc sống.
(Insight được tham khảo từ marketingai.admicro.vn và blog.tomorrowmarketers.org)
Cũng khá lâu rồi mình mới quay lại đây để viết blog. Hôm nay mình sẽ có một bài review nhanh về cuốn sách marketing gần đây mình cực kì, cực kì thích đó là Quảng cáo không nói láo của anh Hồ Công Hoài Phương. Cuốn sách dành cho những ai từng tin “Quảng cáo nói láo ăn tiền”.
Mình biết đến cuốn sách này khá lâu rồi thông qua một chị book reviewer trên Instagram, tuy nhiên vì Tiki thường xuyên hết hàng, mà mình cũng lười đọc sách nên mãi gần đây mình mới mua quyển này, bản paperback với giá 149.000 VNĐ trên Tiki, kiki. Cũng nhờ có dịch Covid-19 nên mình mới có thể ngồi “ngấu nghiến nghiền ngẫm” hết quyển sách này trong 3 ngày. Tuy nhiên, đây không phải là quyển sách đọc nhanh cho hết như tản văn hay ngôn tình, mà dù có đã đọc hết rồi, bạn vẫn nên đọc lại nó lần thứ 1001 đấy.
Without further ado, vì sao mình lại thích quyển sách này đến thế?
Mình là người khá kén sách, nên không phải bất kì cuốn sách nào liên quan đến marketing mình đều đọc. Mình thường ưu tiên những cuốn có văn phong hóm hỉnh một chút, thường sẽ là tác giả người Việt và là người miền Nam để dễ đọc, dễ thấm hơn, vì sách tiếng Anh thì đắt quá mình không mua được, với mua về mình cũng không đọc được =))) còn bản dịch thì thường hơi khô khan nên mình dễ buồn ngủ. Tuy nhiên thì sách của tác giả Việt thì phần nhiều lại nói về content, creative hay là copywriting, còn mình thì định hướng theo lối đi khác nên mình cũng không quá hứng thú với những quyển sách này. Mình không biết gọi tên quyển sách này của anh Phương là thể loại nào, nhưng nó cho mình những góc nhìn mới về marketing. Sau khi gấp quyển sách này lại, dù bạn đồng ý hay không đồng ý với quan điểm của anh thì Quảng cáo không nói láo vẫn là một quyển sách xứng đáng được đọc lại thêm 1001 lần nữa.
Mỗi trang sách anh Hoài Phương viết đều cho mình một chiêm nghiệm mới về marketing. Tuy nhiên, mình sẽ note ra đây những đoạn mình tâm đắc nhất, những đoạn mình đã chụp ảnh lại khi đọc chúng.
2.1. Quảng cáo thật sự không nói láo, như đúng tựa đề của cuốn sách này. Vì ngày hôm nay người tiêu dùng đã quá thông minh và hiểu biết rằng đâu là sự thật. Chúng ta không có khả năng đánh lừa họ. Quảng cáo có thể nói quá lên một chút để bạn chú ý. Quảng cáo có thể làm phiền bạn đôi chút vì đơn giản là thương hiệu không muốn bị xa mặt, cách lòng. Quảng cáo có thể dùng những chiêu trò tâm lý học để hình thành nên nhận thức của chúng ta. Quảng cáo có thể tôn vinh bạn một tí để tạo dựng hành vi tiêu dùng. Nhưng hơn hết, quảng cáo sẽ giúp nền kinh tế phát triển bằng cách kích thích hành vi tiêu dùng và giữ lại những giá trị tốt đẹp của cuộc sống này.
Tôi vẫn luôn tin là như vậy.
2.2. Tư duy USP hay tư duy “tạo thông tin sản phẩm độc đáo để thuyết phục, đánh vào lý trí” cho đến nay vẫn là tư duy phổ biến, mặc định của tất cả những người làm quảng cáo và tiếp thị. Nhưng đến cuối những năm 1950, tư duy nó có vài vấn đề.
Một là càng ngày chúng ta càng khó tạo ra một sản phẩm thật sự độc đáo và khác biệt. Công nghệ hầu như đã rút ngắn khoảng cách khác biệt của sản phẩm.
Điều quan trọng hơn, trong rất nhiều ngành hàng, khác biệt không phải là điều khiến chúng ta mua hàng. Hầu hết mọi cửa hàng đồ ăn nhanh đều bán gà rán, cà phê, bánh mì và kem. Nếu quá khác biệt, đối tượng tiêu dùng sẽ hẹp lại và như thế không đủ cho chi phí vận hành.
2.3. Tôi tin rằng, trong mỗi con người, hành vi thì dễ đổi chứ thái độ mới là thứ khó dời. Muốn dời thái độ, hãy giúp họ đổi hành vi trước. Và từ đó, thật ra chúng ta không quảng cáo cho sản phẩm, không tạo ra tạo niềm tin và thái độ đối với sản phẩm.
Chúng ta quảng cáo hành vi dùng sản phẩm. Lon Pepsi và việc uống Pepsi là hai chủ đề hoàn toàn khác nhau.
2.4. Thương hiệu đừng quá nghiêm trọng, quảng cáo đừng nên quá nghiêm túc, thông điệp cũng chẳng cần phải quá nghiêm trang, vì chúng ta sinh ra để được chơi giữa cuộc đời này mà.
2.5. Thay vì trở thành giấy gói xôi, bạn có thể biến một tờ quảng cáo báo giấy với hoa văn vintage thành giấy gói quà.
Thay vì bị làm phiền và chặn, bạn có thể biến một ad banner trở thành tờ giấy nhắc nhở liên tục về những công việc chúng ta cần làm trong ngày.
Thay vì chẳng ai quan tâm, bạn có thể biến điểm kích hoạt thương hiệu tại trung tâm mua sắm thành một phòng thư giãn và làm đẹp cho quý ông khi chờ các cô vợ lựa đồ.
Đến đoạn phim quảng cáo Vinamilk còn có thể giúp mẹ cho các bé chịu ngồi ăn cơm thì mọi quảng cáo trên đời này đều có giá trị của nó cả.
Hãy làm cho quảng cáo trở nên có ích hoặc chí ít là không làm phiền ai hết. Và để không làm phiền, công năng của quảng cáo là tương đồng với công dụng của phương tiện quảng cáo.
Thử tượng tượng có một dịch vụ mà bạn có thể đặt báo thức thông qua một người thật như bộ phận tiếp tân ở khách sạn. Họ sẽ là các cô gái quyến rũ và có giọng nói cực kỳ ngọt ngào.
2.6. Hãy một lần nghĩ mình là người bình thường và không quan tâm đến quảng cáo hay truyền thông.
Hãy một lần nghĩ mình là người bình thường với những suy nghĩ giản đơn về sản phẩm, mua sắm hay thương hiệu.
Vì quảng cáo làm ra không dành cho những người làm quảng cáo. Nó dành cho người bình thường.
Vì thế, trước khi là một người làm quảng cáo xuất sắc, hãy là một người bình thường xuất chúng.
2.7. Người làm digital nói rằng quảng cáo truyền thống sẽ chết và quảng cáo kỹ thuật số sẽ lên ngôi.
Người làm content cho rằng người ta mua câu chuyện của bạn, không phải sản phẩm.
Người làm quảng cáo truyền thống thì tôn thờ quá mức yếu tố cảm xúc của phim quảng cáo.
Người làm trade thì cho rằng định vị thương hiệu hay “brand concept” mới là điều quan trọng nhất.
Và chỉ có bạn, người đang làm kinh doanh, đang chịu trách nhiệm với chính đồng tiền, sản phẩm của mình mới biết cái gì là quan trọng nhất dành cho mình mà thôi.
2.8. Hãy làm mẩu quảng cáo cho chính chúng ta – những người bình thường – khi ta xem chỉ để giải trí, một cách đơn giản và rất hời hợt.
2.9. Đừng đọc sách về quảng cáo nữa! =)))
Chung quy lại, quyển sách này cho mình nhiều góc nhìn mới hay ho và mình hy vọng bạn cũng sẽ nhìn được nhiều thứ hay ho từ nó!
Ai cũng biết là để học hỏi và nâng cao một cái gì đấy, thì cách dễ nhất và nhanh nhất là thông qua bắt chước. Ví dụ như trong học tiếng anh, để nói tiếng anh tốt hơn, người ta đã nghĩ ra phương pháp “Shadowing”, giúp tăng khả năng phát âm chuẩn và cải thiện tông giọng cho giống người bản xứ hơn.
Trong việc xây dựng brand touchpoint cũng vậy, cách tốt nhất là thông qua bắt chước. Không quan trọng công ty của chúng ta lớn đến nhường nào, hoặc ta tài giỏi, kinh nghiệm và hiểu biết đến nhường nào. Luôn có những thứ người khác nghĩ đến nhưng ta lại không. Vậy nên việc bắt chước là một việc hết sức tự nhiên, hết sức bình thường.
Những cái tên Michael Jordan, Air Jordan nghe có quen không?
Biết nói sao nhỉ, cả hai đều dường như đã đi vào huyền thoại khi người ta tìm hiểu về Nike. Michael Jordan đã cứu Nike một bàn thua trông thấy vào những năm 80. Khi ấy Nike không chỉ muốn quảng bá một dòng sản phẩm hay một mẫu giày mới mà hãng muốn tạo ra cả một thần tượng với thành tích, tính cách cũng như phong cách thời trang gắn liền với Nike. Vậy nên để làm được điều đó, công ty thuê hẳn John Paul “Sonny” Vaccaro, một huấn luyện viên bóng rổ nổi tiếng tại trường trung học để tìm, đào tạo và phát triển một tài năng trẻ đủ sức đảm đương trọng trách này. Khi ấy, họ tìm thấy Michael Jordan.
Đến năm 1997, khi Jordan nhận danh hiệu vô địch thứ 5 trong sự nghiệp bóng rổ nhà nghề của mình, doanh thu của Nike cán mốc 9,19 tỷ USD.
Năm 2012, những dòng giày mang thương hiệu Jordan đã bán được 2,5 tỷ USD trên toàn thế giới và là loại giày thể thao bán chạy nhất khi đó của Nike cũng như của làng thời trang thể thao. Riêng dòng Air Jordan chiếm tới 58% doanh số bán dụng cụ bóng rổ tại Mỹ và 77% dụng cụ bóng rổ cho trẻ em.
Ngoài ra, Nike còn hợp tác với rất nhiều cái tên nổi bật nữa như Cristiano Ronaldo, Tiger Woods.
Họ tạo nên những quảng cáo mang đến động lực
Để xây dựng thương hiệu thì bên cạnh functional value, còn có emotional value cũng quan trọng không kém. Khái niệm này không mới nhưng không phải ai cũng hiểu được tầm quan trọng.
Emotional Branding về cơ bản thì là một sự đánh vào tâm lý khách hàng. Tất cả mọi thứ, từ các icon, các thiết kế cho đến trải nghiệm khách hàng đều mang trong nó ý nghĩa gì đó, giúp tác động vào cảm xúc khách hàng, từ đó gia tăng sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu.
Emotional Branding thường xuyên được áp dụng ở các công ty lớn, tiêu biểu nhất có lẽ là Nike, khi người ta nhắc đến Nike thì sẽ nghĩ đến việc chiến thắng chính con người bên trong mình. Hay đối với Adidas – thương hiệu mang đến cho người dùng năng lượng để bước lên. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó không xuất hiện ở các công ty nhỏ.
Các quảng cáo của Apple xếp theo tháp nhu cầu Maslow Nguồn: clevertap.com
Hay chiến dịch “Real Beauty” của Dove, trong bối cảnh có sự thật ngầm hiểu rằng hầu hết phụ nữ trên thế giới đều cảm thấy bản thân ít xinh đẹp hơn so với cách người khác nhìn vào họ. Chiến dịch này không chỉ thách thức quan niệm thường thấy của những người phụ nữ mà còn đánh thức lòng tự tôn của họ. Dove đã cho ra đời video “Real Beauty Sketches” – video được lan truyền nhiều nhất mọi thời đại và được chia sẻ nhiều thứ ba trong lịch sử với 114 triệu lượt view, 3.74 triệu lượt chia sẻ chỉ sau một tháng ra mắt.
Video clip được phát triển chuyện từ ý tưởng “phụ nữ là người phê bình nghiêm khắc nhất của chính mình”, ghi lại câu về một số phụ nữ trẻ tự miêu tả gương mặt mình để một nghệ sĩ pháp y của FBI (ngồi sau tấm màn) phác hoạ chân dung, sau đó, gương mặt họ sẽ được người thứ ba miêu tả để nghệ sĩ này lại phác hoạ thành một bức chân dung khác. Cuối cùng, hai phiên bản chân dung được đưa ra để các cô gái thấy rằng họ đang khắt khe một cách không cần thiết với ngoại hình của mình, dẫn đến việc không nhìn thấy được vẻ đẹp thực sự của bản thân.
Hmm, thử hình dung nhé, những câu chuyện là yếu tố thiết yếu để chúng ta giao tiếp với người khác. Cậu kể một câu chuyện có chủ đề mà cả cậu và người đang lắng nghe cậu đều quan tâm thì nó câu chuyện đó sẽ gây được chú ý tốt, có tính giải trí cao, giúp truyền năng lực cho người khác, hay đơn giản là khiến những gì cậu nói trở nên thuyết phục hơn. Và những câu chuyện thì thường có thể ghi nhớ và có thể chia sẻ được.
Đồng ý là những câu chuyện có sức ảnh hưởng lớn, nhưng làm thế nào để kể chuyện, nhất là trong marketing? Có một số yếu tố cơ bản sau đây, cậu có thể tham khảo nhé!
Cậu cần một nhân vật
Tất cả những câu chuyện hay đều liên quan đến ai đó, kể cả đó là người khổng lồ hay đồ chơi biết nói.
Lỗi lớn nhất mà các doanh nghiệp thường mắc phải là: họ nghĩ sản phẩm của họ chính là nhân vật của những câu chuyện. Đây là một lỗi rất phổ biến trong rất nhiều quảng cáo không đem đến cảm giác an toàn (ex. mua kem đánh răng của bọn tao hoặc mày sẽ chết trong sự đơn độc), đó là những chiến dịch đầy sự ích kỉ và dễ dàng phá tan mất thông điệp marketing.
Để kể một câu chuyện hấp dẫn và thuyết phục, nhân vật nhất định phải là khách hàng của cậu.
Nhân vật trong storytelling là người được thay đổi để phát triển quá trình của toàn câu chuyện, từ một người bình thường như bao người, trở thành một người đặc biệt.
Cậu cần một mục tiêu
Làm kinh doanh tốt thì giải quyết vấn đề của khách hàng cũng tốt.
Cậu cần phải hiểu: hôm nay nhân vật (khách hàng) của cậu đang ở đâu, mà ngày mai cô ấy muốn đi đâu. Sự đổi thay cô ấy đang tìm kiếm là gì? Cô ấy muốn có một bước ngoặt đổi thay về sức khỏe, về mối quan hệ, về tài chính cá nhân hay về sự nghiệp phía trước.
Cô ấy sẽ trông như thế nào (về mặt ngoại hình) khi có sự thay đổi?
Chuyện gì hiện tại cô ấy không làm được nhưng tương lai sẽ làm được?
Cô ấy sẽ có gì trong tay?
Cô ấy tin vào điều gì?
Những mối quan hệ cô ấy sẽ có?
Cô ấy sẽ là ai?
Khi mà cậu có thể hiểu được mục tiêu của nhân vật, cậu sẽ chẳng cần marketing story nữa, cậu chỉ cần lượm lặt nhiều giai thoại lại thôi.
Cậu cần một trở ngại
Ừm, nếu như sự thay đổi đấy có thể diễn ra một cách dễ dàng thì người ta đâu cần đến sản phẩm các cậu cung cấp nữa, đúng hông?
“Trở ngại” là thứ khiến câu chuyện cậu muốn kể trở nên thú vị hơn. Khoảng cách giữa nơi mà nhân vật đang đứng hôm nay và nơi mà cô ấy muốn đặt chân đến vào ngày mai chính là bát mắm tôm làm cho mẹt bún đậu storytelling trở nên ngon hơn.
Thường thì chiến thắng cuối cùng mà khách hàng của cậu đạt được là vượt qua được những trở ngại ngoại cảnh, nhưng cái trở ngại khiến câu chuyện lên cao trào lại nằm ở bên trong.
Thứ gì khiến khách hàng của cậu quyết tâm chinh phục mục tiêu của cô ấy? Viên đá nào đang cản đường cô ấy đi? Nhưng quan trọng hơn cả là, rào cản về tâm lý nào cô ấy đang tự đặt ra cho bản thân? Cô ấy cần vượt qua những gì để có thể đạt được mục tiêu?
Cậu cần để lại một bài học
Khi cậu đang kể một câu chuyện, sẽ là một sự khôn ngoan khi cậu nêu rõ bài học rút ra trong đó là gì. Kể chuyện để chỉ cho những đối tượng mục tiêu của cậu thấy được là nhân vật kia đã vượt qua được mọi rào cản và đạt được mục tiêu, chỉ ra là doanh nghiệp của cậu có thể cố vấn và chỉ đường cho họ, để họ trở thành phiên bản tốt hơn của chúng mình, chỉ ra cách mà họ có thể vượt qua được rào cản cả bên ngoài lẫn bên trong để đạt được thứ họ đang tìm kiếm. Cuối cùng là nêu lại luận điểm một lần nữa và giải thích rõ ràng về nó. Hãy để cho khách hàng biết họ nên làm gì tiếp theo.
Đừng sợ việc giải thích rõ ràng về một điều gì đó. Hãy thẳng thắn và thành thật. Chìa khóa nằm ở sự rõ ràng.
Hãy nói thật
Ở giữa kỷ nguyên mà thế giới digital thật giả lẫn lộn, cậu sẽ có thể đạt được những thành công ngoài mong đợi bằng việc nói thật, không ba hoa và không thổi phồng sự thật lên.
Cậu càng rõ ràng trong kinh doanh, trong cách cậu đối xử với khách hàng và trong những vấn đề cậu giải quyết, thì cậu càng nhận lại được nhiều khách hàng trung thành.
Điểm đến của mỗi câu chuyện là mức độ đáng nhớ của nó, để nó có thể tồn tại trong tiềm thức của người đọc, và được họ đem đi chia sẻ với người khác.
Hôm nay là một ngày dài trầm lắng, sau một hồi tự lượn lờ trên trang blog của bản thân, nhìn vào cái mục “Hà Nội” đã được lập ra gần 2 tháng trời mà vẫn chưa có lấy nổi một bài viết, cảm giác muốn tâm sự mỏng chút đỉnh tự nhiên cứ thế dâng trào trong đầu mình.
Quê của mình ở tỉnh, mình cũng sống ở thành phố, nhưng mình chưa bao giờ ngừng ngưỡng mộ Hà Nội. Với một thằng bé chưa được 18 tuổi đời, trong con mắt của nó khi hướng về thủ đô hoa lệ mặc nhiên được nó định nghĩa là thành phố trong mơ với những toà cao ốc, những trung tâm thương mại, nô nức người và xe hơi, đi kèm với những cơ hội, những đấu tranh. Để rồi dần dần, cứ thế trong nó sinh ra mong muốn được là một phần của nơi đây.
Hà Nội lúc ấy tồn tại trong mắt mình sao mà to lớn thật, hùng vĩ thật.
Lên đại học, mình được xuống thành phố trong mơ của bản thân. Mình vỡ mộng, bạn thân của mình mất xe ngay trong tuần đầu nó xuống Hà Nội. Mình làm mất ví cũng trong tuần đầu xuống Hà Nội. Mình ốm mà không hiểu sao mất tận 1 tháng trời mới khỏi. Nước bẩn, môi trường thì ô nhiếm, lối sống con người nơi đây thì vội vã, dường như chẳng ai rảnh rỗi để quan tâm ai. Hà Nội lúc ấy tồn tại trong mắt mình thật xấu xí và nhớp nháp.
Thời gian đầu mình nhớ nhà thật sự, cảm giác chỉ muốn chuyển về học đại học ở tỉnh lẻ vì thèm cảm giác trong vòng tay gia đình quá, mọi thứ khác xa với tưởng tượng.
Nhưng kì lạ thay, thời gian thoi đưa, tình yêu dành cho Hà Nội lại một lần nữa bén nở trong mình từ lúc nào không biết. Như thế thứ tình cảm ấy không mất đi trong mình, nó vẫn luôn tồn tại như thế, ẩn sâu bên trong, chỉ trực chờ để bùng cháy trở lại từ nơi tâm can mình.
Gần một năm trôi qua, mình dần quen với nếp sống nơi đây, dần chấp nhận bộ mặt thứ hai mà mình chưa bao giờ tưởng tượng đến khi còn ở quê nhà. Nhưng bức tranh chỉ có thể đẹp khi có những đoá hoa tô điểm lên nó. Đối với mình, điều tuyệt với nhất ở nơi đây là mình đã được gặp thật nhiều người tốt, kì lạ. Từ những người đồng trang lứa cho đến các tiền bối, họ đều có những nét gì đó vô cùng đặc biệt, những nét riêng của bản thân. Những nét riêng ấy độc đáo và đẹp đẽ, khiến mình không khỏi thán phục. Điều ấy giúp mình nhận ra thiếu xót của bản thân để cải thiện, tìm ra và phát huy cái tốt.
Bên cạnh những người mình có thể học hỏi, mình cũng đã gặp những người quan trọng với mình, những người mà mình có thể sẻ chia tâm sự, nỗi buồn, niềm vui và suy nghĩ thầm kín. Có những người chịu ở bên cạnh lắng nghe mình mà chẳng cần lí do gì đặc biệt. Có người mang đến cho mình mục tiêu lớn, kiêm luôn người đồng hành. Có người chịu làm người đặc biệt với mình, chịu để cho mình quan tâm, chăm sóc, chịu kể câu chuyện hằng ngày và những lo toan của người ấy với mình, thâm chí còn chịu vì mình mà làm những việc người ngoài vẫn xem là dở hơi.
Hôm nay lượn lờ trên đường phố Hà Nội. Bầu trời xám xịt, âm u, tịch mịch. Không khí thì ô nhiễm với chỉ số AQI thì cao chót vót. Đường phố thì vắng vẻ vì dịch bệnh, khác hẳn Hà Nội thường ngày. Nhưng thật kì lạ, mình không hề thấy ghét thành phố này. Mình cũng không còn hối hận vì chọn học hành tại đây nữa. Mình biết ơn nơi đây vì đã đem đến cho mình những trải nghiệm tuyệt vời, những kinh nghiệm vô giá và cả những con người tuyệt vời – những con người mình hiện giờ không thể ngừng yêu thương. Đó có thể chỉ là một thay đổi nhỏ với người khác, nhưng với mình, đây là sự trưởng thành!
Định nghĩa một cách đơn giản, tỉ lệ tương tác trên Instagram (Instagram Engagement Rate) là trung bình số lượng like, comment mà cậu nhận được trong mỗi bài viết, được chia ra bởi số lượng người theo dõi mà tài khoản của cậu có.
Engagement rates là một đơn vị đo lường hiệu quả để quản lý bởi vì nó nêu ra được mức độ thường xuyên người dùng tương tác với content của cậu, và nó bắt cậu phải chú trọng tới những data quan trọng, chứ không phải vanity metrics (ví dụ như là số lượng người theo dõi cậu có).
Làm thế nào để đo lường Instagram Engagement?
Hãy ghi nhớ là, công thức để đo lường Instagram engagement là cái để check số lượng like và comment mỗi bài viết đạt được, được chia ra bởi số lượng người theo dõi tài khoản của cậu và nhân với 100.
Phép toán ở đây là:
(Likes + comments per post) / Total number of followers x 100
Như thế nào là một tỉ lệ tương tác tốt trên Instagram?
Trước khi bàn về tỉ lệ tương tác thì chúng ta hãy thừa nhận một sự thật rằng, không có một quy chuẩn nào cho cái gọi là sự tương tác tốt cả. Tỉ lệ tương tác lí tưởng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, cho nên không có “một size giày nào có thể đi vừa chân tất cả mọi người” được.
Như tớ đã nói, cậu có thể nhìn vào nhiều tỉ lệ tương tác khác nhau và dùng những con số đó để thu thập thông tin để đo đường tỉ lệ tương tác trong tài khoản của cậu.
Tỉ lệ tương tác trung bình trên Instagram rơi vào khoảng từ 1 – 5%.
Nếu cậu muốn biết về tỉ lệ tương tác trong một lĩnh vực cụ thể, lĩnh vực cậu đang làm chẳng hạn, thì cậu sẽ phải research vài lần để tìm ra câu trả lời. Tiếp theo, hãy lưu câu trả lời đấy trong đầu, với cả nhớ là nó có thể thay đổi. Chẳng hạn, nếu tỉ lệ tương tác của cậu rơi vào khoảng 0.85% thì cậu đang làm khá tốt rồi đấy.
Hmm, tất nhiên là cậu, tớ hay bất kì ai đều tham vọng về một con số cao nhất có thể. Và trong hầu hết trường hợp thì cậu sẽ nhìn thấy tỉ lệ tương tác rơi vào tầm 1-3%. 5% hoặc hơn là dấu hiệu của sự tương tác cao cực kì.
Vậy làm thế nào để tăng độ tương tác trên Instagram?
Về cơ bản thì nó có 5 cách phổ biến và dễ áp dụng nhất:
Lựa chọn thời gian đăng bài phù hợp với người theo dõi tài khoản của cậu.
Khôn ngoan khi sử dụng hashtags và viết captions.
Tận dụng tối đa sức mạnh của Instagram Stories.
Tổ chức contests và give aways cũng là một cách không tệ.
Sử dụng ominichannel marketing để đẩy tương tác hiện tại trên Instagram.
Và cuối cùng, làm thế nào để phát triển tài khoản Instagram?
THỜI GIAN CHÍNH LÀ CHÌA KHÓA
Đầu tiên, cậu hãy tự trả lời 2 câu hỏi:
Khi nào thì cậu nên đăng bài?
Mức độ thường xuyên cậu có thể đăng bài là như thế nào?
Theo một research mà tớ đọc được, thời điểm tốt nhất để đăng bài lên Instagram vào buổi trưa các ngày trong tuần. Bởi lẽ hầu hết người dùng đều sử dụng Instagram bằng điện thoại và họ thường tránh sử dụng điện thoại trong giờ hành chính, và cậu cũng sẽ có thể thành công nếu nhưng đăng bài vào buổi tối.
Và tớ còn tìm hiểu được là, thứ 4 là ngày đẹp trời nhất để đăng bài lên IG, và chủ nhật là ngày mà tương tác luôn kém nhất.
Cậu nên đặt chỉ tiêu đăng bài lên Instagram 1 đến 3 lần mỗi ngày, với nội dung chính của thương hiệu thì đăng trong khoảng trung bình là 1.5 lần mỗi ngày.
oberlo.com
SỬ DỤNG HASHTAG
Instagram hashtags là một tính năng tuyệt vời mà cậu có thể dùng để tăng tỉ lệ tương tác.
Hashtags có thể giúp cậu:
Đạt được nhiều like hơn
Có nhiều follower hơn
Tiếp cận được nhiều đối tượng hơn
Nhưng mà, làm thế nào để tìm được hashtag có thể giúp cậu tăng tỉ lệ tương tác trên Instagram?
Nghiên cứu xem đối tượng của cậu, đối thủ của cậu là ai, và thậm chí là những influencer trên IG đang đăng cái gì và tìm ra hashtag được dùng phổ biến nhất.
SỬ DỤNG CAPTION THẬT CẨN THẬN
Cái caption mà cậu dùng có thể giúp ich rất lớn để cậu cung cấp thêm thông tin vào content của mình, và có thể giúp cậu tiếp cận và thu hút người xem.
TẬN DỤNG TỐI ĐA INSTAGRAM STORIES
Mỗi ngày có khoảng 500 triệu người dùng insta stories. Một con số khủng thực sự.
Và thậm chí IG Stories không thể đo lường được độ tương tác thì nó vẫn là một thứ không thể thiếu khi cậu đang loay hoay tìm cách đẩy tương tác trên tài khoản của mình.
ĐỪNG NGẠI SỬ DỤNG VIDEO CONTENT
Người dùng IG thích xem video lắm luôn. Thực tế là vào năm 2018, số lượng video được tạo ra trên IG tăng 80% so với 2017.
Có nhiều marketers và doanh nhân xem video content là một phần thiết yếu, quyết định một chiến dịch truyền thông có thành công hay không.
TỔ CHỨC CUỘC THI – GIVEAWAYS
Tớ không tự tin vào nhan sắc của bản thân, nhưng tớ tự tin khẳng định là ai mà chẳng thích những thứ miễn phí. Có điều việc đó có ý nghĩa gì với tài khoản IG của cậu?
Đơn giản cực, sự khoái cảm của việc có thể chiến thắng một cái gì đó luôn luôn tồn tại trong lòng mỗi người, vì vậy cậu có thể tổ chức một cuộc thi hoặc giveaways để chạm vào insight đó của mọi người. Hơn thế nữa, cậu còn có thể tiếp cận được một số lượng không nhỏ các đối tượng mục tiêu của bên cậu nữa. Tất cả những gì cậu cần làm là tìm một cuộc thi phù hợp, quà tặng giveaways phù hợp và đăng nó lên Instagram.
SỬ DỤNG OMNICHANNEL MARKETING
Vậy Omnichannel Marketing là gì?
Ommichannel có nghĩa là bán hàng đa kênh trên cùng một nền tảng và hướng đến thống nhất, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Hay như brandsvietnam định nghĩa thì, đây chính là việc người kinh doanh bán hàng trên các kênh khác nhau (như mạng xã hội, website, gọi điện thoại cho đến các ứng dụng trên smartphone) theo một cách nhất quán, liên tục trên tất cả các thiết bị có thể tiếp cận được với khách hàng, giúp quá trình mua hàng của khách thuận tiện, hiệu quả, tối ưu dù mua qua bất cứ hình thức nào. Là thành viên mới, sau traditional, digital và social marketing, omnichannel marketing được coi là công cụ để tăng doanh số nhanh nhất.
Sẽ là một điều rất bình thường kể cả khi một công ty B2B rất lớn có chưa đến 100 khách hàng. Việc mua bán đối với các doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi một đội ngũ chứ không phải chỉ một người như B2C. Chính vì vậy, việc mua bán sẽ được quyết định lý tính hơn rất nhiều. người mua của B2C thường có xu hướng cảm xúc, mong muốn nhất thời. Trong B2B không được có xu hướng như vậy. Họ mua thứ họ cần để có lợi nhuận chứ không phải thứ họ muốn.
Yêu cầu của người mua B2B sẽ ít hơn:
Một trong những lý do tiêu biểu nhất là vì số lượng người mua của mô hình này ít hơn rất nhiều so với B2C. Trong B2C có quá nhiều khách hàng tiềm năng vậy nên những các yêu cầu đi kèm từ đó cũng tăng lên.
Thường thì trong thị trường B2B, người ta sẽ chú ý đến các yếu tố chất lượng, giá cả, thiết lập quan hệ và dịch vụ đi kèm là chủ yếu