Nổi bật

Thị Trường Edtech – Một Thị Trường Kì Lạ

Giống như bao thị trường tích hợp công nghệ khác, thị trường Edtech dù chỉ là một thị trường non trẻ ở Việt Nam nhưng nó lại có tốc độ phát triển và lớn mạnh khủng khiếp. Ở Việt Nam, hiện nay thị trường này được ước tính sẽ vượt 3 tỷ USD vào năm 2023 và nằm trong top 10 thị trường EdTech có tốc độ tăng trưởng lớn nhất thế giới. Tổng vốn đầu tư vào các start-up trong lĩnh vực này tại Việt Nam đã đạt 20,2 triệu USD.

Vậy, điều gì khiến cho thị trường này trở nên màu mỡ như vậy?

Chỉ trong một thời gian ngắn khoảng 5 năm đổ lại, chúng ta thấy rất nhiều doanh nghiệp edtech mới ra đời, đặc biệt là cho trẻ em, có thể nhắc đến Teky – doanh nghiệp đào tạo IT cho trẻ em của chị Đào Lan Hương, hoặc Palfish, nền tảng đào tạo tiếng anh ưu việt cho trẻ em 1 kèm 1 của anh Khổng Minh Thái.

Điều quan trọng nhất có lẽ đến từ tính “ưu việt” của thị trường này đối với người tiêu dùng. Sau đó phải xét đến tính “lợi nhuận” của nó đối với các doanh nghiệp. Về tính ưu việt với người dùng

Tính Ưu Việt

Đầu tiên nếu xét về tính ưu việt thì chắc chắn không cần nói nhiều, chúng ta giờ đây chỉ cần ngồi tại nhà mà có thể lĩnh hội đủ thứ kiến thức trên đời một cách chi tiết và hiệu quả nhất. Từ đó, biến trẻ em nói riêng và chúng ta nói chung thành những “công dần toàn cầu”.

Điều này tức là một trò chơi của trẻ em châu Phi hoặc là đến từ Mỹ, cuộc sống rất khác nhau nhưng nó cũng có điểm tương đồng đối với trẻ em Việt Nam. Hiểu một cách đơn giản, công dân toàn cầu có thể đến từ bất kỳ đâu, không phân biệt quốc gia, quốc tịch, tôn giáo; có sự thấu cảm và hiểu về các vấn đề chung, từ đó họ sẽ hiểu và đồng cảm với những con người khác nhau có cuộc sống khác nhau.

Theo bà Nguyễn Phương Dung, CEO cổ phần 1Edtech giáo dục công dân toàn cầu sẽ bao gồm các hoạt động hỗ trợ để tăng cường ba yếu tố, đó là nhận thức, hành vi, tình cảm xã hội cho trẻ nhỏ, để trẻ có thể đạt được những năng lực của công dân toàn cầu. Đơn cử như gia tăng tiếp xúc về mặt quốc tế, tăng sự giao lưu kết nối xã hội cho trẻ em, hay cho trẻ học những ngôn ngữ mới. Điều này có thể thấy rõ ở một số nền tảng như PalFish, khi nền tảng này đảm bảo khả năng học tập có hiệu quả với công nghệ AI 5.0.

Tính lợi nhuận

Theo tính toán, năm 2019, thị trường Edtech Việt Nam ước tính đạt trị giá 2 tỷ USD. Sang năm 2020, thị trường Edtech Việt Nam đã tăng vọt lên 3 tỷ USD nhờ sự bùng nổ của xu hướng học trực tuyến. Theo báo cáo Công nghệ giáo dục Việt Nam 2021 do Edtech Agency phối hợp cùng Công ty Tư vấn Quản lý OCD thực hiện, thị trường EdTech Việt Nam đang được đánh giá vô cùng tiềm năng, hút dòng vốn lớn từ giới đầu tư với tổng vốn đầu tư vào các startup lên 20,2 triệu USD, nằm trong top 10 thị trường Edtech có tốc độ tăng trưởng lớn nhất thế giới với tỉ lệ khoảng 44,3%.

Một trong những cái tên được nhắc nhiều trên thị trường EdTech Việt Nam là tập đoàn FPT. Đây là nhà cung cấp CNTT trong nước có sức cạnh tranh trên thị trường EdTech với hàng loạt ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), mang đến những trải nghiệm học tập phù hợp với nhu cầu của từng học sinh cùng kho nội dung khổng lồ. FPT hiện đang cung cấp cho khoảng 40.000 trường học với 3 triệu tài khoản hoạt động duy trì.

Từ những số liệu trên, thử tưởng tượng với tốc độ tăng trưởng khủng khiếp đến vậy thì liệu có mấy mà Edtech trở thành xu hướng giáo dục chủ chốt? Hãy để tương lai trả lời.

Nổi bật

Màu sắc có ý nghĩa như thế nào trong Marketing?

Màu sắc là thứ khiến tớ yêu Marketing. Vì vậy, mở đầu cho năm Canh Tý, tớ xin chia sẻ những thứ tớ biết và research được về Màu sắc trong Marketing nhaa.

Tâm lý học màu sắc là gì?

Tâm lý học màu sắc là việc nghiên cứu về mối liên hệ giữa màu sắc và hành vi của con người. Nó mang mục đích quyết định màu sắc ảnh hưởng đến những quyết định hằng ngày của chúng ta như thế nào, ví dụ như những vật phẩm chúng ta mua. Ý nghĩa của màu sắc có thể có ảnh hưởng tới lý do vì sao chúng ta thích màu này hơn màu kia. Những màu sắc giống nhau cũng có thể có ý nghĩa khác nhau, phụ thuộc vào quá trình chúng ta lớn lên, giới tính, nơi cư trú, giá trị và rất nhiều yếu tố khác nữa.

Vậy tại sao màu sắc lại quan trọng trong Marketing?

Màu sắc kích thích cảm xúc cực mạnh. Và nó vẫn đúng khi cậu chọn màu sắc cho công việc kinh doanh. Lựa chọn đúng màu sắc trong sự nỗ lực làm marketing sẽ góp phần giúp cho thương hiệu của bên cậu nổi bật hơn hẳn trước đám đông, hoặc cũng có thể khiến nó hoà nhập với đám đông. Sử dụng màu sắc một cách có chiến lược trong quá trình làm Marketing, cậu có thể khiến cho đối tượng mục tiêu của mình nhìn thấy cái cậu muốn họ nhìn thấy, giúp họ hiểu được cái mà cậu đang mong muốn được thấu hiểu. Đó là lí do vì sao thấm nhuần được tâm lý học màu sắc sẽ cực kì hữu ích cho những nỗ lực làm Marketing của cậu và đồng nghiệp. Bởi nó giúp các cậu phác hoạ được thương hiệu của mình theo cái cách mà các cậu muốn.

Các marketers có thể sử dụng màu sắc để tác động lên cái cách con người ta suy nghĩ và hành động về phía một thương hiệu, và cách họ tiếp cận bất kì luồng thông tin nào. Sự lựa chọn màu sắc có thể khiến người ta nhận ra cái gì quan trọng, cái gì không. Và đó là lý do mà content marketer nào cũng cần hiểu về sự khác nhau giữa các sắc màu hết!

Các màu sắc khác nhau như thế nào?

MÀU ĐỎ

Màu đỏ là công cụ cực kì đắc lực trong việc thu hút sự chú ý. (Còn mặc nguyên cây đỏ đứng trước mặt crush có phản tác dụng không thì tớ không biết nữa.) Ý nghĩa của màu đỏ luôn gắn liền với niềm vui, sự đam mê, năng lượng, hành động và cả sự nguy hiểm (mấy cái biển báo giao thông chẳng hạn). Hãy cùng nhau lục lại trí nhớ một chút, cậu có để ý thấy rằng có khá nhiều brands dùng màu đỏ cho cái nút “đặt hàng ngay”, một số brands khác thì dùng bao bì màu đỏ để nằm nổi bật trên kệ hàng của đại lý, của Circle K,… Trong tâm lý học màu sắc, màu đỏ là mãnh liệt nhất. Bởi lẽ đó mà nó có khả năng kích thích cảm quan mạnh mẽ nhất luôn. Nhưng màu đỏ cũng có thể gây ra nguy hiểm, nên cậu hãy dùng nó “tiết kiệm” thôi nha.

Đỏ là màu chủ đạo của nhiều ông lớn như Coca Cola và YouTube. Đỏ có khả năng kích thích vị giác, khiến cậu thèm ăn, thèm uống, nên Coca Cola chọn màu đỏ trong suốt quá trình xây dựng thương hiệu cũng là điều không khó hiểu. Coca Cola còn dùng từ như happiness trong thương hiệu của mình, nên họ dùng màu đỏ để vun đắp niềm vui. YouTube cũng dùng màu đỏ để thể hiện sự vui vẻ khi xem các videos online. Chú ý là, một phần logo chiếm màu đỏ chính là dấu hiệu để kích thích người ta hành động. Nó kích thích cậu click vào xem hết video này đến video khác và hết luôn một ngày.

MÀU CAM

Màu cam đại diện cho sự sáng tạo, sự phiêu du, sự nhiệt huyết, sự thành công và cả sự cân bằng. Màu cam sẽ thêm thắt một thìa vui vẻ vào bức tranh, vào trang web hay vào bất kì chất liệu, phương tiện làm marketing nào các cậu đang thực hiện. Mặc dù màu cam cũng là một màu có tính mãnh liệt cao, nhưng chưa đến mức độ như màu đỏ. Có nhiều marketers vẫn sử dụng màu cam để kêu gọi hành động hay để ở một góc của trang web mà họ đang muốn gây chú ý.

MÀU VÀNG

Màu vàng quay quanh ánh nắng mặt trời rực rỡ. Nó kích thích sự vui vẻ, sự lạc quan, sự tích cực và mùa hè, nhưng nó cũng chỉ cái bề ngoài giả dối và cảnh giác. Có một số thương hiệu chọn màu vàng tươi vui làm background hoặc phần viền của thiết kế website. Cậu cũng có thể sử dụng màu vàng cho cái nút “freeshipping” trên website bán hàng nếu màu vàng có thể hòa hợp với các người anh em khác. Một vài lần chạm đến màu vàng có thể khiến những người ghé thăm website của cậu cảm nhận là cửa hàng, công ty của cậu toàn sự tích cực.

Logo của IKEA có màu vàng. Vậy mua đồ nội thất thì liên quan gì đến kích thích sự vui vẻ, tích cực và lạc quan? Thử hình dung nhé, khi cậu quyết định mua sắm nhiều đồ nội thất cho phòng trọ của mình, thì ít nhiều cậu phải cảm thấy chắc chắn với lựa chọn nhà cửa của mình, và cậu đang thấy cực kì vui vẻ vì chủ nhà chẳng giới hạn giờ giấc, điện nước thì lấy giá dân, khu cậu ở gần văn phòng của nhiều agency to đùng, cậu bước ra khỏi cửa là có vô vàn hàng ăn uống, shop quần áo nổi tiếng trên Instagram. Còn đối với nhiều người, họ mua sắm nội thất khi chuyển đến nhà mới. Mà thử nghĩ xem, một cặp vợ chồng 30 tuổi mua được căn chung cư 5 tỷ ở Hà Nội, quá xịn sò đi chứ, không hạnh phúc và tích cực mới lạ.

MÀU HỒNG

Các thương hiệu mà nhắm tới khách hàng mục tiêu là phụ nữ thường sẽ dùng màu hồng. Trong tâm lý học màu sắc, màu hồng là màu của nữ quyền, sự khôi hài, sự “chưa trưởng thành” và tình yêu vô điều kiện. Một số nhãn hàng đã và đang sử dụng màu hồng cho bao bì sản phẩm, đặc biệt là quà tặng cho phái nữ. Trong khi đó nhiều nhãn hàng lại highlight màu hồng trên logo, thiết kế website hoặc nhấn mạnh thông điệp truyền thông.

MÀU XANH LÁ CÂY

Xanh lá cây có sự kết nối cực kì chặt chẽ với tự nhiên và tiền bạc. Quá trình lớn lên, sự phì nhiêu, sức khỏe và sự phóng khoáng là những ý nghĩa tích cực của sắc màu này. Xanh lá cây cũng mang một vài nét nghĩa tiêu cực như là sự ganh ghét chẳng hạn. Nếu cậu làm trong lĩnh vực sức khỏe hay fitness thì có thể cậu nên cho thêm một vài sắc xanh vào cửa hàng online của mình. Ví dụ như ảnh nền trang web hay logo chẳng hạn.

MÀU XANH DƯƠNG

Màu xanh dương là màu của biển, màu của trời cao. Sự ổn định, sự hài hòa, hòa bình, bĩnh tĩnh và sự tin tưởng là những cảm giác mà khách hàng của cậu có thể cảm nhận nếu như bộ nhận diện thương hiệu của cậu mang sắc xanh chủ đạo. Ngược lại, màu xanh dương cũng có thể mang một số nét nghĩa tiêu cực như là sự chán nản, buồn bã và có thể đem đến cảm giác lạnh lẽo. Xanh dương có thể được dùng trong thiết kế logo của website. Một số người bán hàng đã dùng màu xanh làm màu sắc chủ đạo trong giấy bảo hành, giấy chứng nhận độ tin cậy và nút “freeshipping” để nhấn mạnh về độ tin cậy trong thương hiệu của mình.

Các ông lớn trong làng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Skype đều dùng màu xanh dương làm màu sắc chính trong thương hiệu của mình. Tuy Facebook thì gắn liền với sự ồn ào và scandals nhưng quanh đi quẩn lại, Facebook vẫn là thứ chúng ta dành nhiều thời gian vào nhất.

MÀU TÍA

Màu tía là màu của sự chanh sả. Màu tía gắn liền với quyền lực, tầng lớp quý phái, sự sang trọng, sự tự do và sự duy linh. Nhưng mà nhớ là đừng dùng màu này nhiều quá, nếu không nó sẽ gây phản tác dụng. Một số người sẽ cảm thấy việc dùng màu tía “quá liều” là kiêu căng đấy. Cậu có thể thêm một ít sắc tía vào thiết kế website như là mục “freeshipping”, logo và màu nhấn.

MÀU TRẮNG

Màu trắng chỉ sự ngây thơ, sự tốt bụng, sự sạch sẽ và sự khiêm tốn. Hãy nhớ rằng, đây chỉ là sự định nghĩa của các nền văn hóa Bắc Mỹ thôi nhé. Ở một số nơi khác trên thế giới, màu trắng mang ý nghĩa ngược lại. Có thể cậu sẽ muốn ghi nhớ nét nghĩa phù hợp với khách hàng mục tiêu của mình thôi. Màu trắng cũng đề cập đến một số thứ không tích cực cho lắm, là sự cằn cỗi và sự giá lạnh. Ở các trang thương mại điện tử, màu trắng thường là màu được tin dùng nhất. Cậu có thể dùng nó làm background của hình ảnh sản phẩm. Trang của cậu sẽ là nền trắng và font đen, bởi vì font đen nền trắng là sự phối hợp hoàn hảo nhất để chống loá khi đọc. Một ông lớn sử dụng màu trắng trong Marketing thì phải kể đến Adidas.

MÀU ĐEN

Đen là một màu phổ biến trong thương mại. Đen chỉ sự huyền bí, sự quyền lực, sự quý phái và sự tinh vị. Nhưng ngược lại, đen cũng chỉ những xúc cảm không mấy tích cực như là sự buồn bã hay tức giận. Có nhiều hãng thời trang dùng màu đen là màu chủ đạo trong logo. Màu đen lại còn là màu đứng top về sự dễ đọc. Một vài nhãn hàng sử dụng ảnh đen trắng cho banner hoặc icon để tạo nên một tone xác định và lâu dài. Ông lớn trong ngành thời trang dùng màu đen thì là Chanel, Nike,…

Nổi bật

Vì sao mình lại chọn ngành marketing?

Câu chuyện suy nghĩ về ngành học từ ngày thơ bé

Từ khi mình còn đang học cấp 2, mình vẫn luôn có một niềm đam mê mãnh liệt đỗi với ngành bất động sản chứ không phải marketing

Vì sao mình thích bất động sản?

Đơn giản vì ngành bất động sản vẫn luôn được cho là ngành của sự giàu có. Và hơn thế, tôn chỉ sống của mình vẫn luôn là:” giàu chưa chắc đã sướng. Nhưng nghèo thì chắc chắn khổ”. Có lẽ do sinh ra trong gia đình làm kinh tế nên mình bị ảnh hưởng ít nhiều.

Bước ngoặt để đến với marketing

Nói là vậy, nhưng sau này, khi mình lớn lên, mình dần nhận ra bất động sản không phải là một ngành có thể chinh phục đối với một thằng nhóc hỉ mũi chưa sạch như mình. Ngành bất động sản rủi ro vô cùng lớn, không phải ai cũng muốn mạo hiểm. Hơn thế, việc để làm giàu nhờ đầu tư bất động sản còn cần rất nhiều thứ khác nữa. Học ngành bất động sản ra, nếu không làm bất động sản thì quả là khó để có thể làm trái ngành.

Đúng cái lúc mà mình đang phân vân không biết có nên chọn bất động sản hay không, thì mình nghe được câu nói của một youtuber trên youtube, muốn làm được bất động sản, thì đầu tiên phải bán được hàng trước đã.

Vào giầy phút ấy, mình bỗng nhớ đến marketing. Một ngành vẫn rất hot hiện nay, tỉ lệ thất nghiệp thấp so với những ngành khác. Thậm chí sinh viên ngành này còn vô cùng năng động, học được các kĩ năng cần thiết cho tương lai có lẽ không khó. Nhưng, động lực to nhất để mình bước chân vào thế giới của các marketer, vẫn là bất động sản.

Marketing chính là cầu nối để đưa mình đến với đầu tư bất động sản, giúp mình tìm hiểu tâm lý khách hàng, biết cách để thoả mãn nhu cầu khách hàng. Và rồi đạt được đích đến cuối cùng của bản thân – làm giàu nhờ bất động sản.

Tòm lại, mình nghĩ, khi chọn ngành, mỗi người nên có những định hướng rõ ràng và chọn ngành phù hợp để đến với các định hướng của họ. Đừng chọn ngành chỉ vì người khác cũng chọn hay vì ngành đó điểm cao. Nếu làm việc có động lực thì mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Be an ordinary human being, not giving a f*ck to advertising or communications

The biggest mistake we usually make when working in the field of marketing and advertising is thinking that people around the globe all deeply care about advertising like the way we do.

In recent years, the word Marketing has become extremely popular with the young as a trendy and interesting field for us all to pursue. Unlike the aridity of financial reports, marketing and advertising campaigns in particular bring us to the world where people talk about more interesting things namely creativity, psychology, consumer insights, buying behaviors, etc. It is undeniable that marketing is the field that closely relates to our daily life the most, probably that’s why we love marketing and so many people would like to work as a marketer regardless of their backgrounds.

Ignoring my prolix beginning, now I’ll focus on the main topic – the title of this blog. Why we should be an ordinary human being, not giving a f*ck to advertising and communications?

After several years of finding our true-selves and the major that might be the most suitable with our abilities and interests, the first thing we do is undoubtedly surrounding our life with it as much as possible by stricking up the relationships with friends and predecessors studying or working in this field, following related fanpages, joining related groups on social media platforms and researching credible websites to read. For instance, when we live in a world where everyone you know all talks about marketing from real life to social media. Everyday, we will hear, we will see some talk about 4Ps, some talk about facebook ads, some talk about SEO mindset, some analyze the latest TVC of Aba or Grab, others dissect How Starbucks applies SWOT model in their business. As a result, we misunderstand that all human beings on the world deeply care about marketing like the way we do without noticing that the Earth is big and our community is just a part of the whole diversified world. Correspondingly, sometimes we make contents and ads with a hope that it will become viral and be cared by everyone, but sadly that, ordinary humans don’t pay as much attention to advertising as we may think.

Before spending time learning marco-knowledge in this field, why don’t we pause for a while, to put ourselves in normal humans’ shoes? Give myself as a typical example, the version when I don’t care about marketing. I frequently feel awkward when an ad appears while I’m enjoying a funny clip on YouTube, I try to skip it as soon as possible though its length is just 20 seconds. I never give a sh!t to how emotional and meaningful the TVCs of Grab are until too many people discuss about them on Marketing community groups. When using my personal vehicles on the road, I never pay attention to the print ads on pedestrian bridge until there is a post on social media talking about it. I don’t think the fonts and the sizes of words and numbers designed on a poster, print ad, billboard or social media post are important because I don’t wanna spend my time on unnecessary things like this (it doesn’t mean that I disapprove the importance of them because they affect our psychology directly and normal humans don’t realize it.)

After all, to recap what I mean in this blog, before becoming a great marketer and advertising campaign maker, we should be an outstanding ordinary human being. Think that we are not marketer, we don’t give a sh!t to marketing, we just think about products, purchasing and brands in the simplest way. Cause advertising isn’t made for marketers, it is made for ORDINARY HUMAN BEINGS.

Mô hình Truth, Tension, Motivation

Mô hình Truth, Tension, Motivation là một mô hình giúp diễn đạt insight của khách hàng. Một insight tốt của khách hàng sẽ bao gồm cả ba yếu tố trên, cụ thể là Sự thật không thể chối cãi (truth), Mâu thuẫn (Tension) và Motivation (Động lực mạnh mẽ).

Vậy đầu tiên, insight là gì?

Customer insights (hay còn được gọi là insight) là các “sự thật ngầm hiểu” diễn giải về hành vi và xu hướng của khách hàng, giúp doanh nghiệp có thể thấu hiểu một cách sâu sắc mong muốn và nhu cầu của họ.

Đây là ưu tiên số một trong việc triển khai một chiến dịch Marketing thành công, và đảm bảo cho sự phát triển, tăng trưởng của doanh nghiệp. Insight hay có thể là niềm khơi gợi một sự thật về khách hàng, luôn có sẵn ở đó nhưng chưa ai khai thác, từ đó đưa ra những chiến dịch, hành động nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng, tăng độ nhận diện cho thương hiệu về tăng doanh thu bán hàng cho doanh nghiệp.

Điều kiện của insight?

Không phải là sự thật hiển nhiên

Insight không phải sự thật hiển nhiên, Insight là “sự thật ngầm hiểu”. Đây là điều mà khách hàng chưa bao giờ nói ra, hay thậm chí họ chỉ vô thức nhận ra, công việc của chúng ta là tự mình tìm ra nó. Sự thật hiển nhiên có thể tìm ra được sau một quá trình quan sát, nhưng sự thật ngầm hiểu thì không như vậy, ta cần cả một quá trình và nhiều công sức để tìm ra nó. Từ sự thật hiển nhiên, ta có thể đi đến sự thật ngầm hiểu sau thật nhiều những câu hỏi “vì sao?”. Vậy nên, chúng ta cần theo dõi khách hàng và phát hiện những lý do và động lực đằng sau hành vi của người tiêu dùng.

Insight không chỉ đến từ dữ liệu

Thu thập dữ liệu là một bước vô cùng quan trọng để tìm ra insight. Tuy nhiên thu thập dữ liệu chỉ có thể ra data và sự thật hiển nhiên, những bước đầu để tìm ra insight chứ không phải là insight. Vấn đề cơ bản của marketer là biến data trở nên cần thiết hơn, khai thác và phân tích dữ liệu để tìm kiếm insight có thể biến thành hành động. Tóm lại, Marketer có thể có rất nhiều data chi tiết về khách hàng, đó là sự thật về khách hàng, nhưng không có nghĩa núi dữ liệu khổng lồ sẽ đem lại một insight hay.

Dựa trên insight đó có thể đưa ra được hành động thực tế

Tất nhiên, một insight tốt phải có thể áp dụng được vào thực tế. Những gì chỉ có thể tồn tại trên sách vở mà không thể đem vào thực hiện đều là những điều phi thực tế. một insight hay phải đủ độc đáo để khiến khách hàng hành động, khiến họ thay đổi hành vi, khiến họ có thể tương tác với chiến dịch, từ đó gia tăng tỉ lệ chuyển đổi cho doanh nghiệp. Nói cách khác, đến mục đích cuối cùng vẫn là bán được hàng.

Mô hình Truth, Tension, Motivation

Một insight có đủ cả 3 yếu tố truth, tension, motivation thường sẽ là một insight tốt. Nó có sự thật người thương hiệu hiểu về người tiêu dùng, có những mâu thuẫn thầm kín khiến họ gặp vấn đề và có cả động lực nào của họ để thương hiệu biết điểm đánh vào khiến họ bị ảnh hưởng mạnh nhất.

Mô hình Truth Tension Motivation

Tóm lại là trong insight của người tiêu dùng cần phải có một sự thật của người tiêu dùng mà không thể chối cãi. Có cả một vấn đề của người tiêu dùng, vấn đề này là một thứ nút thắt ẩn giấu trong tâm trí người tiêu dùng chưa thể tự giải quyết được và chúng ta sẽ “gỡ nút thắt” ấy giúp người tiêu dùng.

Ngoài ra, một insight có đủ cả 3 yếu tố thường sẽ là insight tốt. Nhưng không bắt buộc một insight tốt chứa cả motivation và tension, chỉ có một trong hai vẫn có thể là một insight tốt được. Nhưng chắc chắn phải có một trong hai.

Ví dụ về mô hình

Tiger – Uncage

Quyết tâm xây dựng thương hiệu cho Tiger thành “Biểu tượng bia của người Châu Á”, Heineken Asia–Pacific (Heineken APAC) đã tung ra chiến lược tái định vị thương hiệu đầy tham vọng cho Tiger Beer mang tên “Uncage”. Với insight hiểu rõ về giới trẻ, Tiger quyết định nhập cuộc chơi. Thương hiệu này hiểu rằng, thế hệ trẻ Châu Á đang dần chuyển mình từ những thế hệ nhút nhát không dám vươn ra thế giới thành một thế hệ mới tự do và sáng tạo hơn. Tuy nhiên, vẫn có những rào cản lớn ngăn các bạn bùng nổ hết mình với cái tôi tuyệt vời nhất. Họ luôn sống với cái ‘gông’ của chính mình để phù hợp với mong đợi của gia đình, bạn bè và thuần phong mỹ tục nơi họ sinh sống.

Truth: Thế hệ trẻ Châu Á đang dần chuyển mình từ những thế hệ nhút nhát không dám vươn ra thế giới thành một thế hệ mới tự do và sáng tạo hơn.

Tension: Tuy nhiên, vẫn có những rào cản lớn ngăn các bạn bùng nổ hết mình với cái tôi tuyệt vời nhất. Họ luôn sống với cái ‘gông’ của chính mình để phù hợp với mong đợi của gia đình, bạn bè và thuần phong mỹ tục nơi họ sinh sống.

Motivation: Họ luôn muốn chứng tỏ bản thân, bùng nổ hết mình.

Samsung – Look at me campaign

Đối tượng mục tiêu của chiến dịch này là các bậc phụ huynh có con nhỏ mắc chứng tự kỷ. Họ là nhóm đối tượng đã quá quen thuộc với công nghệ cao và luôn tìm mọi cách tốt nhất để biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn cho đứa con yêu quý của họ. Theo những dữ liệu thu thập được, Samsung hiểu rằng những trẻ em mắc tính tự kỷ cực kì thích tương tác với các thiết bị kỹ thuật số. Do đó, Samsung bắt đầu “cuộc chơi” của mình. Đó cũng chính là insight mà Samsung ngầm hiểu, từ đó đưa ra các kênh phù hợp thu hút sự chú ý của các bậc phụ huynh và các em bé tự kỷ.

Truth: Samsung hiểu rằng những trẻ em mắc tính tự kỷ cực kì thích tương tác với các thiết bị kỹ thuật số.

Motivation: bậc phụ huynh là nhóm đối tượng đã quá quen thuộc với công nghệ cao và luôn tìm mọi cách tốt nhất để biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn cho đứa con yêu quý của họ.

OMO – Dirt is good

Những bà mẹ tại các thị trường đang phát triển và mới nổi tại Châu Á vẫn thường tin rằng:

  • Bẩn là không tốt
  • Cho phép những đứa trẻ vấy bẩn là điều không tốt và nó mang lại ý nghĩa tiêu cực cho trẻ.
  • Mẹ phản đối chất bẩn và mọi thứ khiến họ xem là mất vệ sinh với gia đình.

Phải có điều gì đó khiến cho việc vấy bẩn trở nên dễ hiểu và dễ chấp nhận hơn đối với những bà mẹ ở khu vực châu Á khó tính. Do đó, OMO đem đến một insight vô cùng sáng tạo “Bẩn là tốt” – bởi các bé sẽ không ngần ngại vui chơi học hỏi, không ngại lấm bẩn, chúng mới có thể rút ra được những bài học quý giá từ cuộc sống này.

The insight: Mẹ biết lấm bẩn là cách để con khám phá và tiếp thu những bài học quý giá trong cuộc sống, thế nhưng mẹ rất ngại phải giặt những vết bẩn cứng đầu.

Truth: Mẹ biết lấm bẩn là cách để con khám phá và tiếp thu những bài học quý giá trong cuộc sống.

Tension: Mẹ biết, nhưng mẹ rất ngại phải giặt những vết bẩn cứng đầu.

Motivation: Mẹ muốn con khôn lớn bằng cách khám phá và tiếp thu những bài học quý giá trong cuộc sống.

(Insight được tham khảo từ marketingai.admicro.vn và blog.tomorrowmarketers.org)

[Book Review] Quảng cáo không nói láo – Hồ Công Hoài Phương

Good morning,

Cũng khá lâu rồi mình mới quay lại đây để viết blog. Hôm nay mình sẽ có một bài review nhanh về cuốn sách marketing gần đây mình cực kì, cực kì thích đó là Quảng cáo không nói láo của anh Hồ Công Hoài Phương. Cuốn sách dành cho những ai từng tin “Quảng cáo nói láo ăn tiền”.

Mình biết đến cuốn sách này khá lâu rồi thông qua một chị book reviewer trên Instagram, tuy nhiên vì Tiki thường xuyên hết hàng, mà mình cũng lười đọc sách nên mãi gần đây mình mới mua quyển này, bản paperback với giá 149.000 VNĐ trên Tiki, kiki. Cũng nhờ có dịch Covid-19 nên mình mới có thể ngồi “ngấu nghiến nghiền ngẫm” hết quyển sách này trong 3 ngày. Tuy nhiên, đây không phải là quyển sách đọc nhanh cho hết như tản văn hay ngôn tình, mà dù có đã đọc hết rồi, bạn vẫn nên đọc lại nó lần thứ 1001 đấy.

Without further ado, vì sao mình lại thích quyển sách này đến thế?

  1. Mình là người khá kén sách, nên không phải bất kì cuốn sách nào liên quan đến marketing mình đều đọc. Mình thường ưu tiên những cuốn có văn phong hóm hỉnh một chút, thường sẽ là tác giả người Việt và là người miền Nam để dễ đọc, dễ thấm hơn, vì sách tiếng Anh thì đắt quá mình không mua được, với mua về mình cũng không đọc được =))) còn bản dịch thì thường hơi khô khan nên mình dễ buồn ngủ. Tuy nhiên thì sách của tác giả Việt thì phần nhiều lại nói về content, creative hay là copywriting, còn mình thì định hướng theo lối đi khác nên mình cũng không quá hứng thú với những quyển sách này. Mình không biết gọi tên quyển sách này của anh Phương là thể loại nào, nhưng nó cho mình những góc nhìn mới về marketing. Sau khi gấp quyển sách này lại, dù bạn đồng ý hay không đồng ý với quan điểm của anh thì Quảng cáo không nói láo vẫn là một quyển sách xứng đáng được đọc lại thêm 1001 lần nữa.
  2. Mỗi trang sách anh Hoài Phương viết đều cho mình một chiêm nghiệm mới về marketing. Tuy nhiên, mình sẽ note ra đây những đoạn mình tâm đắc nhất, những đoạn mình đã chụp ảnh lại khi đọc chúng.

2.1. Quảng cáo thật sự không nói láo, như đúng tựa đề của cuốn sách này. Vì ngày hôm nay người tiêu dùng đã quá thông minh và hiểu biết rằng đâu là sự thật. Chúng ta không có khả năng đánh lừa họ. Quảng cáo có thể nói quá lên một chút để bạn chú ý. Quảng cáo có thể làm phiền bạn đôi chút vì đơn giản là thương hiệu không muốn bị xa mặt, cách lòng. Quảng cáo có thể dùng những chiêu trò tâm lý học để hình thành nên nhận thức của chúng ta. Quảng cáo có thể tôn vinh bạn một tí để tạo dựng hành vi tiêu dùng. Nhưng hơn hết, quảng cáo sẽ giúp nền kinh tế phát triển bằng cách kích thích hành vi tiêu dùng và giữ lại những giá trị tốt đẹp của cuộc sống này.

Tôi vẫn luôn tin là như vậy.

2.2. Tư duy USP hay tư duy “tạo thông tin sản phẩm độc đáo để thuyết phục, đánh vào lý trí” cho đến nay vẫn là tư duy phổ biến, mặc định của tất cả những người làm quảng cáo và tiếp thị. Nhưng đến cuối những năm 1950, tư duy nó có vài vấn đề.

Một là càng ngày chúng ta càng khó tạo ra một sản phẩm thật sự độc đáo và khác biệt. Công nghệ hầu như đã rút ngắn khoảng cách khác biệt của sản phẩm.

Điều quan trọng hơn, trong rất nhiều ngành hàng, khác biệt không phải là điều khiến chúng ta mua hàng. Hầu hết mọi cửa hàng đồ ăn nhanh đều bán gà rán, cà phê, bánh mì và kem. Nếu quá khác biệt, đối tượng tiêu dùng sẽ hẹp lại và như thế không đủ cho chi phí vận hành.

2.3. Tôi tin rằng, trong mỗi con người, hành vi thì dễ đổi chứ thái độ mới là thứ khó dời. Muốn dời thái độ, hãy giúp họ đổi hành vi trước. Và từ đó, thật ra chúng ta không quảng cáo cho sản phẩm, không tạo ra tạo niềm tin và thái độ đối với sản phẩm.

Chúng ta quảng cáo hành vi dùng sản phẩm. Lon Pepsi và việc uống Pepsi là hai chủ đề hoàn toàn khác nhau.

2.4. Thương hiệu đừng quá nghiêm trọng, quảng cáo đừng nên quá nghiêm túc, thông điệp cũng chẳng cần phải quá nghiêm trang, vì chúng ta sinh ra để được chơi giữa cuộc đời này mà.

2.5. Thay vì trở thành giấy gói xôi, bạn có thể biến một tờ quảng cáo báo giấy với hoa văn vintage thành giấy gói quà.

Thay vì bị làm phiền và chặn, bạn có thể biến một ad banner trở thành tờ giấy nhắc nhở liên tục về những công việc chúng ta cần làm trong ngày.

Thay vì chẳng ai quan tâm, bạn có thể biến điểm kích hoạt thương hiệu tại trung tâm mua sắm thành một phòng thư giãn và làm đẹp cho quý ông khi chờ các cô vợ lựa đồ.

Đến đoạn phim quảng cáo Vinamilk còn có thể giúp mẹ cho các bé chịu ngồi ăn cơm thì mọi quảng cáo trên đời này đều có giá trị của nó cả.

Hãy làm cho quảng cáo trở nên có ích hoặc chí ít là không làm phiền ai hết. Và để không làm phiền, công năng của quảng cáo là tương đồng với công dụng của phương tiện quảng cáo.

Thử tượng tượng có một dịch vụ mà bạn có thể đặt báo thức thông qua một người thật như bộ phận tiếp tân ở khách sạn. Họ sẽ là các cô gái quyến rũ và có giọng nói cực kỳ ngọt ngào.

2.6. Hãy một lần nghĩ mình là người bình thường và không quan tâm đến quảng cáo hay truyền thông.

Hãy một lần nghĩ mình là người bình thường với những suy nghĩ giản đơn về sản phẩm, mua sắm hay thương hiệu.

Vì quảng cáo làm ra không dành cho những người làm quảng cáo. Nó dành cho người bình thường.

Vì thế, trước khi là một người làm quảng cáo xuất sắc, hãy là một người bình thường xuất chúng.

2.7. Người làm digital nói rằng quảng cáo truyền thống sẽ chết và quảng cáo kỹ thuật số sẽ lên ngôi.

Người làm content cho rằng người ta mua câu chuyện của bạn, không phải sản phẩm.

Người làm quảng cáo truyền thống thì tôn thờ quá mức yếu tố cảm xúc của phim quảng cáo.

Người làm trade thì cho rằng định vị thương hiệu hay “brand concept” mới là điều quan trọng nhất.

Và chỉ có bạn, người đang làm kinh doanh, đang chịu trách nhiệm với chính đồng tiền, sản phẩm của mình mới biết cái gì là quan trọng nhất dành cho mình mà thôi.

2.8. Hãy làm mẩu quảng cáo cho chính chúng ta – những người bình thường – khi ta xem chỉ để giải trí, một cách đơn giản và rất hời hợt.

2.9. Đừng đọc sách về quảng cáo nữa! =)))

Chung quy lại, quyển sách này cho mình nhiều góc nhìn mới hay ho và mình hy vọng bạn cũng sẽ nhìn được nhiều thứ hay ho từ nó!

Yours faithfully,

Brand touchpoint

I, Điểm chạm thương hiệu là gì?

Điểm chạm thương hiệu (brand touchpoint) là những tương tác và giao tiếp dù là nhỏ nhất giữa thương hiệu với khách hàng. Điểm chạm thương hiệu được xây dựng nên bởi các marketer với mục đích cam kết với khách hàng về những gì thương hiệu của của họ có thể mang đến, hứa hẹn những gì họ có thể cho khách hàng trải nghiệm ở dịch vụ của thương hiệu ấy đều sẽ rất tuyệt vời.

Nói một cách đơn giản hơn, điểm chạm thương hiệu là một cơ hội để thương hiệu giao tiếp với khách hàng thông qua những hoạt động hàng ngày của họ. Từ đó khách hàng sẽ ngày càng tiến đến gần với thương hiệu hơn và tiếp tục sử dụng dịch vụ của thương hiệu đó.

Điểm chạm thương hiệu có thể là bất kì thứ gì. Từ website của nhà hàng mà chúng ta đặt bàn, menu nhà hàng, giọng nói nhân viên tư vấn khách hàng cho đến đồng phục của nhân viên nhà hàng. Tất cả đều là điểm chạm thương hiệu.

Vì vậy, bất cứ cái gì tiếp cận với khách hàng của thương hiệu đều cần phải tạo điểm nhấn tích cực cho khách hàng và làm vui lòng họ.

II, Tại sao điểm chạm thương hiệu lại quan trọng?

Từ những định nghĩa ở trên, ta có thấy rõ ràng được những tác động của điểm chạm thương hiệu là vô cùng to lớn. Và những tác động đấy không luôn mang lại hiệu quả tích cực, nó còn có thể đem đến hiệu quả tiêu cực nữa. Vì vậy cần phải xây dựng nó một cách thật cẩn thận.

Mỗi lần khách hàng có sự “va chạm” đối với một thương hiệu bất kì, dù là vô tình hay hữu ý thì đều sẽ sinh ra những đánh giá trong đầu họ. Những khách hàng đều có các mạng lưới mối quan hệ của riêng họ, lúc ấy WWOM (Word of Mouth Marketing) – thứ mà có sức ảnh hưởng vô cùng lớn và vô cùng rộng – sẽ xuất hiện.

Vì lẽ đó, không một thương hiệu nào mong muốn điểm chạm thương hiệu của mình để lại ấn tượng xấu cho khách hàng cả, vì nó sẽ để lại hậu quả nặng nề về sau.

Brand touchpoint quan trọng như vậy, vậy làm sao để có được một brand touchpoint tốt?

Có hai hướng để một thương hiệu có thể xây dựng nên được một brand touchpoint tốt. Và tất nhiên, bất kì điều gì thương hiệu làm đều là vì khách hàng và cho khách hàng. Vậy nên nó cũng cần phải bắt đầu từ khách hàng.

1. Xác định và nâng tầm brand touchpoint có sẵn:

Việt đầu tiên cần làm, tất nhiên là xác định tất cả những brand touchpoints có sẵn. Hãy nhìn lại một lượt xem có điểm nào tốt và điểm nào chưa tốt ở chúng? Có điểm nào cần loại bỏ? Điểm nào cần giữ lại? Điểm nào cần phát huy?

Hãy nhớ kĩ, điểm chạm thương hiệu có thể là bất kì cái gì, từ những thứ nhỏ nhặt nhất như một bài post trên facebook cho đến những thứ lớn hơn như một bài viết trên tạp chí. Nhưng dù có như thế nào, các điểm chạm thương hiệu này đều cần phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

  • Miêu tả rõ nét nhất về thương hiệu
  • Nổi bật trong mắt khách hàng
  • Là động lực cho khách hàng đưa ra hành động

Một khi đã xác định được các brand touchpoint, hãy đặt câu hỏi để xem thử đó có phải một brand touchpoint tốt không, ví dụ như:

  • Cảm nhận đầu tiên khi khách hàng thấy brand touchpoint ấy là gì?
  • Nó có hợp với brand identity và brand strategy không?
  • Nó có phân biệt được với brand touchpoint của đối thủ không?

Cố gắng sắp xếp tất cả các brand touchpoint, điều này có thể sẽ giúp gia tăng brand awareness và nâng tầm vị trí của thương hiệu trong lòng khách hàng.

Tạo nên brand touchpoint mới

Đối tượng của những brand touchpoint mới:

Việc đầu tiên cần làm là suy nghĩ xem hướng đi là mở rộng doanh nghiệp đến một dịch vụ hoàn toàn mới hay chỉ đơn thuần là tạo thêm những brand touchpoints mới để thu hút khách hàng tiềm năng?

Nếu là tìm một con đường mới cho doanh nghiệp thì cần xem doanh nghiệp của ta chuẩn bị hướng đến mảng nào? Những khách hàng mới là ai?

Kể cả khi không có ý định tạo nên những gói dịch vụ mới, vẫn cần phải suy nghĩ những hướng mới đặc sắc để tiếp cận với khách hàng.

Nhưng dù là theo hướng nào đi chăng nữa thì tài sản quý giá nhất của chúng ta vẫn là những khách hàng trung thành, những người có tình yêu đối với thương hiệu của chúng ta. Vậy nên cho dù có đi theo hướng nào đi chăng nữa thì vẫn cần phải đảm bảo rằng chúng ta vẫn làm họ hài lòng theo chiều hướng tốt nhất.

Yêu cầu của brand touchpoint:

Cách mà con người giao tiếp và gặp gỡ đã thay đổi rất nhiều theo thời đại, lối sống của khách hàng càng ngày càng nhanh, họ cũng đi theo các trend mới nhất của mạng xã hội. Để cho brand touchpoint có mức độ ảnh hưởng lớn nhất lên khách hàng, giờ đây cần phải làm họ “wow” ngay trong những giây đầu tiên.

Điều ấy có nghĩa là ngày nay, giữa cái thời đại 4.0 mà lượng thông tin là vô cùng dồi dào này, cần phải chú trọng vào việc tạo nên những brand touchpoint tốt và mạnh mẽ, với những hoạt động online liên tục thay đổi cùng với thời gian.

Làm được điều này hiển nhiên sẽ giúp ta tạo ra được một cái gì đó đặc biệt so với đối thủ cạnh tranh, khiến chúng ta tách khỏi đám đông những thương hiệu cùng phục vụ một tệp khách hàng mục tiêu và hiển nhiên là tăng nhận diện thương hiệu trong mắt khách hàng.

Học hỏi những brand khác về các brand touchpoint

Ai cũng biết là để học hỏi và nâng cao một cái gì đấy, thì cách dễ nhất và nhanh nhất là thông qua bắt chước. Ví dụ như trong học tiếng anh, để nói tiếng anh tốt hơn, người ta đã nghĩ ra phương pháp “Shadowing”, giúp tăng khả năng phát âm chuẩn và cải thiện tông giọng cho giống người bản xứ hơn.

Trong việc xây dựng brand touchpoint cũng vậy, cách tốt nhất là thông qua bắt chước. Không quan trọng công ty của chúng ta lớn đến nhường nào, hoặc ta tài giỏi, kinh nghiệm và hiểu biết đến nhường nào. Luôn có những thứ người khác nghĩ đến nhưng ta lại không. Vậy nên việc bắt chước là một việc hết sức tự nhiên, hết sức bình thường.

Một số brand touchpoint có thể học hỏi từ các brand khác

Nhưng tất nhiên, bắt chước ở đây không phải là bắt chước vô tội vạ, bắt chước không suy tính. Bắt chước ở đây là tìm kiếm những cái hay, những cái phù hợp với brand của mình và sau đó mài nó, dũa nó, sao cho nó trở thành một brand touchpoint hoàn toàn của chúng ta và mang nét của thương hiệu chúng ta chứ không biến thương hiệu chúng ta thành bản sao của thương hiệu ta vừa “copy”.

Ví dụ về thương hiệu lớn có brand touchpoint tốt:

Có rất nhiều ví dụ hay về các thương hiệu lớn như Apple, Nike, Starbuck,… nhưng bài viết này mình sẽ nói riêng về Nike mà thôi.

Nike là một thương hiệu vô cùng lớn, là thương hiệu hàng đầu trên thị trường. Để đạt được những điều này, các brand touchpoint của Nike không những mới lạ, sáng tạo, chúng còn có khả năng tạo động lực và truyền cảm hứng.

Nike sản xuất đồ cho rất nhiều tệp khách hàng khác nhau. Từ những người bình thường chỉ mong muốn có một bộ đồ thoải mái cho đến những vận động viên cần có trang phục thi đấu chuyên nghiệp. Nhưng dù là hướng nào đi chăng nữa thì Nike luôn thành công trong việc chinh phục túi tiền của khách hàng.

Tại sao lại vậy?

Điều đó có một phần công lớn ở các brand touchpoint của Nike.

Họ hợp tác với những gương mặt lớn

Những cái tên Michael Jordan, Air Jordan nghe có quen không?

Biết nói sao nhỉ, cả hai đều dường như đã đi vào huyền thoại khi người ta tìm hiểu về Nike. Michael Jordan đã cứu Nike một bàn thua trông thấy vào những năm 80. Khi ấy Nike không chỉ muốn quảng bá một dòng sản phẩm hay một mẫu giày mới mà hãng muốn tạo ra cả một thần tượng với thành tích, tính cách cũng như phong cách thời trang gắn liền với Nike. Vậy nên để làm được điều đó, công ty thuê hẳn John Paul “Sonny” Vaccaro, một huấn luyện viên bóng rổ nổi tiếng tại trường trung học để tìm, đào tạo và phát triển một tài năng trẻ đủ sức đảm đương trọng trách này. Khi ấy, họ tìm thấy Michael Jordan.

Đến năm 1997, khi Jordan nhận danh hiệu vô địch thứ 5 trong sự nghiệp bóng rổ nhà nghề của mình, doanh thu của Nike cán mốc 9,19 tỷ USD.

Năm 2012, những dòng giày mang thương hiệu Jordan đã bán được 2,5 tỷ USD trên toàn thế giới và là loại giày thể thao bán chạy nhất khi đó của Nike cũng như của làng thời trang thể thao. Riêng dòng Air Jordan chiếm tới 58% doanh số bán dụng cụ bóng rổ tại Mỹ và 77% dụng cụ bóng rổ cho trẻ em.

Ngoài ra, Nike còn hợp tác với rất nhiều cái tên nổi bật nữa như Cristiano Ronaldo, Tiger Woods.

Họ tạo nên những quảng cáo mang đến động lực

Nike đã thực sự chú trọng vào việc xây dựng một slogan đầy cảm hứng sẽ luôn hiển hiện trong đầu khách hàng mỗi khi nhắc đến hãng: “Just do it”.

Không chỉ thế, quảng cáo của Nike khiến cho người xem phải hành động vì luôn đánh vào đúng chỗ ngứa của khán giả. Chúng đánh vào mong muốn được trở nên hấp dẫn từ bên ngoài vào bên trong của khách hàng.

Nike chi vô cùng mạnh tay cho quảng cáo, vì vậy quảng cáo của Nike luôn mang những màu sắc riêng mà chỉ Nike mới có. Ngay từ lần đầu xem chúng, ta ngay lập tức nhận ra đây là quảng cáo của Nike chứ không một thương hiệu nào khác.

Bạn có thể xem thử quảng cáo Write The Future của Nike từ năm 2010 những đã được đầu tư vô cùng kĩ lưỡng

Quảng cáo Write The Future của Nike thu hút một lượng tương tác khủng lúc bấy giờ

Tất cả những điều trên đã biến quảng cáo của Nike thành một trong những brand touchpoint vô cùng mạnh đối với khách hàng.

Nike là thương hiệu của mọi nhà

Nike quá lớn mạnh, độ bao phủ của thương hiệu này là quá cao. Có thể thấy Nike ở bất kì đâu trên thế giới, trên cái áo của người này, cái quần của người kia, đôi giày của bạn này, chiếc tất của bạn kia. Nói tóm lại là có thể thấy Nike ở bất kì đâu.

Nike không chỉ thống trị thời trang bóng rổ mà dường như đã thống trị thời trang của toàn bộ ngành thể thao. Có thể thấy bất kì cầu thủ nào sử dụng đồ của Nike. Không dừng lại ở đó, từ một thương hiệu thể thao, Nike đã lấn sang thời trang, quần áo mũ nón mắt kính balo và hàng trăm sản phẩm khác.

Tóm lại, Nike cực kì đa dạng trong các loại sản phẩm

Trái nghiệm khách hàng

Động lực, tự do, đẳng cấp.

Đây là những cung bậc cảm xúc của khách hàng khi mua một sản phẩm của Nike nhờ vào brand touchpoint của thương hiệu này. Họ cảm thấy bản thân trở nên tốt đẹp hơn, tuyệt với hơn. Họ cảm thấy họ có thể làm được bất kì điều gì. Họ cảm thấy họ có thể đi quanh trái đất hai lần nhờ vào khẩu hiệu “just do it”. Họ cảm thấy họ có thể thành nhà vô địch nhờ vào sự thoải mái đến từ đôi giày của Nike

Và đó chính là lý do họ trở thành khách hàng trung thành của Nike!

Emotional Branding

Để xây dựng thương hiệu thì bên cạnh functional value, còn có emotional value cũng quan trọng không kém. Khái niệm này không mới nhưng không phải ai cũng hiểu được tầm quan trọng.

Emotional Branding về cơ bản thì là một sự đánh vào tâm lý khách hàng. Tất cả mọi thứ, từ các icon, các thiết kế cho đến trải nghiệm khách hàng đều mang trong nó ý nghĩa gì đó, giúp tác động vào cảm xúc khách hàng, từ đó gia tăng sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu.

Emotional Branding thường xuyên được áp dụng ở các công ty lớn, tiêu biểu nhất có lẽ là Nike, khi người ta nhắc đến Nike thì sẽ nghĩ đến việc chiến thắng chính con người bên trong mình. Hay đối với Adidas – thương hiệu mang đến cho người dùng năng lượng để bước lên. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó không xuất hiện ở các công ty nhỏ.

Emotional Branding là gì?

Về cơ bản thì Emotional Branding là quá trình khi thương hiệu xây dựng nên mối liên kết giữa khách hàng và sản phẩm hoặc thương hiệu bằng việc kích động vào cảm xúc của khách hàng. Các marketer đạt được điều này thông qua quá trình tạo content hấp dẫn được khách hàng, cho họ các cảm xúc như: tạo động lực, gây đồng cảm, gây cảm động, niềm vui,… Nói tóm lại là đánh trực tiếp vào các trạng thái cảm xúc của khách hàng, mong muốn và khát vọng.

Emotional Branding thường thoả mãn cái tôi của khách hàng, thoả mãn nhu cầu được yêu thương tự nhiên của con người, vỗ về và cảm thông với họ.

Marketer truyền tải cái gì qua Emotional Branding?

Advertiser ngày nay không chỉ truyền thông về sản phẩm thông qua quảng cáo. Mà hơn thế, các advertiser còn gửi đi lối sống, thông điệp và danh tính của brand. Ví dụ như khi các doanh nghiệp cho ra đời các TVC mang những người nổi tiếng hoặc các cầu thủ, đang sử dụng sản phẩm của thương hiệu mình, điều này không chỉ giúp người xem có thêm thiện cảm và tin tưởng mà còn truyền tải thông điệp rằng sản phẩm của họ cũng mang năng lượng và khí chất giống như của người đại sứ thương hiệu ấy.

Emotional Branding quan trọng như thế nào?

Yếu tố cảm xúc là vô cùng quan trọng

Sự thật là trong B2C, khách hàng thường sẽ lựa chọn mua hàng dựa trên cảm xúc của họ, họ vẫn sẽ có những suy nghĩ lí tính, nhưng cảm xúc vẫn là thứ ảnh hưởng không hề nhỏ đến quyết định mua hàng. Vậy nên các thương hiệu lớn đều biết rằng đáp ứng nhu cầu của khách hàng là không bao giờ đủ, còn phải chạm được đến trái tim của khách hàng.

Cảm xúc tác động vô cùng lớn đến việc xây dựng thương hiệu

Bên cạnh đó, xây dựng thương hiệu cảm xúc là cách tốt nhất để dựng nên lòng trung thành trong khách hàng đối với thương hiệu. Thậm chí khi Emotional Branding được thực hiện một cách hợp lý, còn có thể tạo nên một cộng đồng khách hàng na ná như một cộng đồng “fan” trung thành của thương hiệu vậy. Những “fan” này mang tính trung thành cao và dường như không thể phá vỡ. Không chỉ thế, họ cũng là những con người sẽ thực hiện Word Of Mouth Marketing (Marketing truyền miệng) cho bạn hoàn toàn miễn phí và tận tâm nhất. Mà sức mạnh của WOMM thì ai cũng biết rồi, là vô cùng mạnh mẽ.

Thế giới thay đổi làm Emotional Branding càng cần thiết

Quá trình toàn cầu hoá là một trong những động lực phát triển Emotional Branding lớn nhất. Sự gia tăng của các đối thủ cạnh tranh, gia tăng các thị trường, gia tăng số lượng sản phẩm thay thế đã khiến cho các thương hiệu không thể nào chỉ dựa vào một mình Marketing truyền thống và các kĩ thuật Sale để đảm bảo sự lâu dài được.

Nike gợi khách hàng nhớ đến việc vượt qua chính mình

Các thương hiệu cần một cái gì đó có thể đảm bảo mình đặc biệt hơn so với đối thủ của mình. Và điều đó cũng được kiểm chứng trong thực tế, khi mà hầu hết các thương hiệu lớn đều mang lại cho khách hàng trung thành một thứ cảm xúc gì đó khi nhắc về.

Emotional Branding chính là thứ khiến bạn đặc biệt

Nghiên cứu cho thấy, lên tới 90% quyết định mua hàng được quyết định thông qua tiềm thức, tuy nhiên chỉ có 1% có cảm giác liên kết với thương hiệu họ đang mua hàng. Nói cách khác, khách hàng không cảm thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm tương tự nhau của các hãng khác nhau.

Điều này có nghĩa là để chiến thắng đối thủ cạnh tranh của bạn thì bên cạnh việc tạo ra sự nổi bật về mặt chất lượng sản phẩm, có thể có cách dễ dàng hơn là tạo nên sự kết nối về mặt cảm xúc của thương hiệu với khách hàng.

Ví dụ

Ví dụ tiêu biểu nhất có lẽ là Apple, khi mà Apple vẫn luôn nổi tiếng như là một bậc thầy quảng cáo. Apple có rất nhiều quảng cáo có thể ảnh hưởng đến cảm xúc của người dùng, thậm chí những quảng cáo ấy còn có thể xếp vào các bậc của tháp nhu cầu Maslow một cách vô cùng “vừa vặn”

Các quảng cáo của Apple xếp theo tháp nhu cầu Maslow
Nguồn: clevertap.com

Hay chiến dịch “Real Beauty” của Dove, trong bối cảnh có sự thật ngầm hiểu rằng hầu hết phụ nữ trên thế giới đều cảm thấy bản thân ít xinh đẹp hơn so với cách người khác nhìn vào họ. Chiến dịch này không chỉ thách thức quan niệm thường thấy của những người phụ nữ mà còn đánh thức lòng tự tôn của họ. Dove đã cho ra đời video  “Real Beauty Sketches” – video được lan truyền nhiều nhất mọi thời đại và được chia sẻ nhiều thứ ba trong lịch sử với 114 triệu lượt view, 3.74 triệu lượt chia sẻ chỉ sau một tháng ra mắt.

Video clip được phát triển chuyện từ ý tưởng “phụ nữ là người phê bình nghiêm khắc nhất của chính mình”, ghi lại câu về một số phụ nữ trẻ tự miêu tả gương mặt mình để một nghệ sĩ pháp y của FBI (ngồi sau tấm màn) phác hoạ chân dung, sau đó, gương mặt họ sẽ được người thứ ba miêu tả để nghệ sĩ này lại phác hoạ thành một bức chân dung khác. Cuối cùng, hai phiên bản chân dung được đưa ra để các cô gái thấy rằng họ đang khắt khe một cách không cần thiết với ngoại hình của mình, dẫn đến việc không nhìn thấy được vẻ đẹp thực sự của bản thân.

Làm thế nào để trở thành một storyteller giỏi?

Tại sao storytelling lại quan trọng?

Hmm, thử hình dung nhé, những câu chuyện là yếu tố thiết yếu để chúng ta giao tiếp với người khác. Cậu kể một câu chuyện có chủ đề mà cả cậu và người đang lắng nghe cậu đều quan tâm thì nó câu chuyện đó sẽ gây được chú ý tốt, có tính giải trí cao, giúp truyền năng lực cho người khác, hay đơn giản là khiến những gì cậu nói trở nên thuyết phục hơn. Và những câu chuyện thì thường có thể ghi nhớ và có thể chia sẻ được.

Đồng ý là những câu chuyện có sức ảnh hưởng lớn, nhưng làm thế nào để kể chuyện, nhất là trong marketing? Có một số yếu tố cơ bản sau đây, cậu có thể tham khảo nhé!

Cậu cần một nhân vật

Tất cả những câu chuyện hay đều liên quan đến ai đó, kể cả đó là người khổng lồ hay đồ chơi biết nói.

Lỗi lớn nhất mà các doanh nghiệp thường mắc phải là: họ nghĩ sản phẩm của họ chính là nhân vật của những câu chuyện. Đây là một lỗi rất phổ biến trong rất nhiều quảng cáo không đem đến cảm giác an toàn (ex. mua kem đánh răng của bọn tao hoặc mày sẽ chết trong sự đơn độc), đó là những chiến dịch đầy sự ích kỉ và dễ dàng phá tan mất thông điệp marketing.

Để kể một câu chuyện hấp dẫn và thuyết phục, nhân vật nhất định phải là khách hàng của cậu.

Nhân vật trong storytelling là người được thay đổi để phát triển quá trình của toàn câu chuyện, từ một người bình thường như bao người, trở thành một người đặc biệt.

Cậu cần một mục tiêu

Làm kinh doanh tốt thì giải quyết vấn đề của khách hàng cũng tốt.

Cậu cần phải hiểu: hôm nay nhân vật (khách hàng) của cậu đang ở đâu, mà ngày mai cô ấy muốn đi đâu. Sự đổi thay cô ấy đang tìm kiếm là gì? Cô ấy muốn có một bước ngoặt đổi thay về sức khỏe, về mối quan hệ, về tài chính cá nhân hay về sự nghiệp phía trước.

  • Cô ấy sẽ trông như thế nào (về mặt ngoại hình) khi có sự thay đổi?
  • Chuyện gì hiện tại cô ấy không làm được nhưng tương lai sẽ làm được?
  • Cô ấy sẽ có gì trong tay?
  • Cô ấy tin vào điều gì?
  • Những mối quan hệ cô ấy sẽ có?
  • Cô ấy sẽ là ai?

Khi mà cậu có thể hiểu được mục tiêu của nhân vật, cậu sẽ chẳng cần marketing story nữa, cậu chỉ cần lượm lặt nhiều giai thoại lại thôi.

Cậu cần một trở ngại

Ừm, nếu như sự thay đổi đấy có thể diễn ra một cách dễ dàng thì người ta đâu cần đến sản phẩm các cậu cung cấp nữa, đúng hông?

“Trở ngại” là thứ khiến câu chuyện cậu muốn kể trở nên thú vị hơn. Khoảng cách giữa nơi mà nhân vật đang đứng hôm nay và nơi mà cô ấy muốn đặt chân đến vào ngày mai chính là bát mắm tôm làm cho mẹt bún đậu storytelling trở nên ngon hơn.

Thường thì chiến thắng cuối cùng mà khách hàng của cậu đạt được là vượt qua được những trở ngại ngoại cảnh, nhưng cái trở ngại khiến câu chuyện lên cao trào lại nằm ở bên trong.

Thứ gì khiến khách hàng của cậu quyết tâm chinh phục mục tiêu của cô ấy? Viên đá nào đang cản đường cô ấy đi? Nhưng quan trọng hơn cả là, rào cản về tâm lý nào cô ấy đang tự đặt ra cho bản thân? Cô ấy cần vượt qua những gì để có thể đạt được mục tiêu?

Cậu cần để lại một bài học

Khi cậu đang kể một câu chuyện, sẽ là một sự khôn ngoan khi cậu nêu rõ bài học rút ra trong đó là gì. Kể chuyện để chỉ cho những đối tượng mục tiêu của cậu thấy được là nhân vật kia đã vượt qua được mọi rào cản và đạt được mục tiêu, chỉ ra là doanh nghiệp của cậu có thể cố vấn và chỉ đường cho họ, để họ trở thành phiên bản tốt hơn của chúng mình, chỉ ra cách mà họ có thể vượt qua được rào cản cả bên ngoài lẫn bên trong để đạt được thứ họ đang tìm kiếm. Cuối cùng là nêu lại luận điểm một lần nữa và giải thích rõ ràng về nó. Hãy để cho khách hàng biết họ nên làm gì tiếp theo.

Đừng sợ việc giải thích rõ ràng về một điều gì đó. Hãy thẳng thắn và thành thật. Chìa khóa nằm ở sự rõ ràng.

Hãy nói thật

Ở giữa kỷ nguyên mà thế giới digital thật giả lẫn lộn, cậu sẽ có thể đạt được những thành công ngoài mong đợi bằng việc nói thật, không ba hoa và không thổi phồng sự thật lên.

Cậu càng rõ ràng trong kinh doanh, trong cách cậu đối xử với khách hàng và trong những vấn đề cậu giải quyết, thì cậu càng nhận lại được nhiều khách hàng trung thành.

Điểm đến của mỗi câu chuyện là mức độ đáng nhớ của nó, để nó có thể tồn tại trong tiềm thức của người đọc, và được họ đem đi chia sẻ với người khác.

Xin chào Hà Nội

Hôm nay là một ngày dài trầm lắng, sau một hồi tự lượn lờ trên trang blog của bản thân, nhìn vào cái mục “Hà Nội” đã được lập ra gần 2 tháng trời mà vẫn chưa có lấy nổi một bài viết, cảm giác muốn tâm sự mỏng chút đỉnh tự nhiên cứ thế dâng trào trong đầu mình.

Quê của mình ở tỉnh, mình cũng sống ở thành phố, nhưng mình chưa bao giờ ngừng ngưỡng mộ Hà Nội. Với một thằng bé chưa được 18 tuổi đời, trong con mắt của nó khi hướng về thủ đô hoa lệ mặc nhiên được nó định nghĩa là thành phố trong mơ với những toà cao ốc, những trung tâm thương mại, nô nức người và xe hơi, đi kèm với những cơ hội, những đấu tranh. Để rồi dần dần, cứ thế trong nó sinh ra mong muốn được là một phần của nơi đây.

Hà Nội lúc ấy tồn tại trong mắt mình sao mà to lớn thật, hùng vĩ thật.

Lên đại học, mình được xuống thành phố trong mơ của bản thân. Mình vỡ mộng, bạn thân của mình mất xe ngay trong tuần đầu nó xuống Hà Nội. Mình làm mất ví cũng trong tuần đầu xuống Hà Nội. Mình ốm mà không hiểu sao mất tận 1 tháng trời mới khỏi. Nước bẩn, môi trường thì ô nhiếm, lối sống con người nơi đây thì vội vã, dường như chẳng ai rảnh rỗi để quan tâm ai. Hà Nội lúc ấy tồn tại trong mắt mình thật xấu xí và nhớp nháp.

Thời gian đầu mình nhớ nhà thật sự, cảm giác chỉ muốn chuyển về học đại học ở tỉnh lẻ vì thèm cảm giác trong vòng tay gia đình quá, mọi thứ khác xa với tưởng tượng.

Nhưng kì lạ thay, thời gian thoi đưa, tình yêu dành cho Hà Nội lại một lần nữa bén nở trong mình từ lúc nào không biết. Như thế thứ tình cảm ấy không mất đi trong mình, nó vẫn luôn tồn tại như thế, ẩn sâu bên trong, chỉ trực chờ để bùng cháy trở lại từ nơi tâm can mình.

Gần một năm trôi qua, mình dần quen với nếp sống nơi đây, dần chấp nhận bộ mặt thứ hai mà mình chưa bao giờ tưởng tượng đến khi còn ở quê nhà. Nhưng bức tranh chỉ có thể đẹp khi có những đoá hoa tô điểm lên nó. Đối với mình, điều tuyệt với nhất ở nơi đây là mình đã được gặp thật nhiều người tốt, kì lạ. Từ những người đồng trang lứa cho đến các tiền bối, họ đều có những nét gì đó vô cùng đặc biệt, những nét riêng của bản thân. Những nét riêng ấy độc đáo và đẹp đẽ, khiến mình không khỏi thán phục. Điều ấy giúp mình nhận ra thiếu xót của bản thân để cải thiện, tìm ra và phát huy cái tốt.

Bên cạnh những người mình có thể học hỏi, mình cũng đã gặp những người quan trọng với mình, những người mà mình có thể sẻ chia tâm sự, nỗi buồn, niềm vui và suy nghĩ thầm kín. Có những người chịu ở bên cạnh lắng nghe mình mà chẳng cần lí do gì đặc biệt. Có người mang đến cho mình mục tiêu lớn, kiêm luôn người đồng hành. Có người chịu làm người đặc biệt với mình, chịu để cho mình quan tâm, chăm sóc, chịu kể câu chuyện hằng ngày và những lo toan của người ấy với mình, thâm chí còn chịu vì mình mà làm những việc người ngoài vẫn xem là dở hơi.

Hôm nay lượn lờ trên đường phố Hà Nội. Bầu trời xám xịt, âm u, tịch mịch. Không khí thì ô nhiễm với chỉ số AQI thì cao chót vót. Đường phố thì vắng vẻ vì dịch bệnh, khác hẳn Hà Nội thường ngày. Nhưng thật kì lạ, mình không hề thấy ghét thành phố này. Mình cũng không còn hối hận vì chọn học hành tại đây nữa. Mình biết ơn nơi đây vì đã đem đến cho mình những trải nghiệm tuyệt vời, những kinh nghiệm vô giá và cả những con người tuyệt vời – những con người mình hiện giờ không thể ngừng yêu thương. Đó có thể chỉ là một thay đổi nhỏ với người khác, nhưng với mình, đây là sự trưởng thành!

Instagram Engagement Rate là gì và nó có quan trọng không?

Định nghĩa một cách đơn giản, tỉ lệ tương tác trên Instagram (Instagram Engagement Rate) là trung bình số lượng like, comment mà cậu nhận được trong mỗi bài viết, được chia ra bởi số lượng người theo dõi mà tài khoản của cậu có.

Engagement rates là một đơn vị đo lường hiệu quả để quản lý bởi vì nó nêu ra được mức độ thường xuyên người dùng tương tác với content của cậu, và nó bắt cậu phải chú trọng tới những data quan trọng, chứ không phải vanity metrics (ví dụ như là số lượng người theo dõi cậu có).

Làm thế nào để đo lường Instagram Engagement?

Hãy ghi nhớ là, công thức để đo lường Instagram engagement là cái để check số lượng like và comment mỗi bài viết đạt được, được chia ra bởi số lượng người theo dõi tài khoản của cậu và nhân với 100.

Phép toán ở đây là:

(Likes + comments per post) / Total number of followers x 100

Như thế nào là một tỉ lệ tương tác tốt trên Instagram?

Trước khi bàn về tỉ lệ tương tác thì chúng ta hãy thừa nhận một sự thật rằng, không có một quy chuẩn nào cho cái gọi là sự tương tác tốt cả. Tỉ lệ tương tác lí tưởng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, cho nên không có “một size giày nào có thể đi vừa chân tất cả mọi người” được.

Như tớ đã nói, cậu có thể nhìn vào nhiều tỉ lệ tương tác khác nhau và dùng những con số đó để thu thập thông tin để đo đường tỉ lệ tương tác trong tài khoản của cậu.

Tỉ lệ tương tác trung bình trên Instagram rơi vào khoảng từ 1 – 5%.

Nếu cậu muốn biết về tỉ lệ tương tác trong một lĩnh vực cụ thể, lĩnh vực cậu đang làm chẳng hạn, thì cậu sẽ phải research vài lần để tìm ra câu trả lời. Tiếp theo, hãy lưu câu trả lời đấy trong đầu, với cả nhớ là nó có thể thay đổi. Chẳng hạn, nếu tỉ lệ tương tác của cậu rơi vào khoảng 0.85% thì cậu đang làm khá tốt rồi đấy.

Hmm, tất nhiên là cậu, tớ hay bất kì ai đều tham vọng về một con số cao nhất có thể. Và trong hầu hết trường hợp thì cậu sẽ nhìn thấy tỉ lệ tương tác rơi vào tầm 1-3%. 5% hoặc hơn là dấu hiệu của sự tương tác cao cực kì.

Vậy làm thế nào để tăng độ tương tác trên Instagram?

Về cơ bản thì nó có 5 cách phổ biến và dễ áp dụng nhất:

  • Lựa chọn thời gian đăng bài phù hợp với người theo dõi tài khoản của cậu.
  • Khôn ngoan khi sử dụng hashtags và viết captions.
  • Tận dụng tối đa sức mạnh của Instagram Stories.
  • Tổ chức contests và give aways cũng là một cách không tệ.
  • Sử dụng ominichannel marketing để đẩy tương tác hiện tại trên Instagram.

Và cuối cùng, làm thế nào để phát triển tài khoản Instagram?

THỜI GIAN CHÍNH LÀ CHÌA KHÓA

Đầu tiên, cậu hãy tự trả lời 2 câu hỏi:

  • Khi nào thì cậu nên đăng bài?
  • Mức độ thường xuyên cậu có thể đăng bài là như thế nào?

Theo một research mà tớ đọc được, thời điểm tốt nhất để đăng bài lên Instagram vào buổi trưa các ngày trong tuần. Bởi lẽ hầu hết người dùng đều sử dụng Instagram bằng điện thoại và họ thường tránh sử dụng điện thoại trong giờ hành chính, và cậu cũng sẽ có thể thành công nếu nhưng đăng bài vào buổi tối.

Và tớ còn tìm hiểu được là, thứ 4 là ngày đẹp trời nhất để đăng bài lên IG, và chủ nhật là ngày mà tương tác luôn kém nhất.

Cậu nên đặt chỉ tiêu đăng bài lên Instagram 1 đến 3 lần mỗi ngày, với nội dung chính của thương hiệu thì đăng trong khoảng trung bình là 1.5 lần mỗi ngày.

oberlo.com

SỬ DỤNG HASHTAG

Instagram hashtags là một tính năng tuyệt vời mà cậu có thể dùng để tăng tỉ lệ tương tác.

Hashtags có thể giúp cậu:

  • Đạt được nhiều like hơn
  • Có nhiều follower hơn
  • Tiếp cận được nhiều đối tượng hơn

Nhưng mà, làm thế nào để tìm được hashtag có thể giúp cậu tăng tỉ lệ tương tác trên Instagram?

Nghiên cứu xem đối tượng của cậu, đối thủ của cậu là ai, và thậm chí là những influencer trên IG đang đăng cái gì và tìm ra hashtag được dùng phổ biến nhất.

SỬ DỤNG CAPTION THẬT CẨN THẬN

Cái caption mà cậu dùng có thể giúp ich rất lớn để cậu cung cấp thêm thông tin vào content của mình, và có thể giúp cậu tiếp cận và thu hút người xem.

TẬN DỤNG TỐI ĐA INSTAGRAM STORIES

Mỗi ngày có khoảng 500 triệu người dùng insta stories. Một con số khủng thực sự.

Và thậm chí IG Stories không thể đo lường được độ tương tác thì nó vẫn là một thứ không thể thiếu khi cậu đang loay hoay tìm cách đẩy tương tác trên tài khoản của mình.

ĐỪNG NGẠI SỬ DỤNG VIDEO CONTENT

Người dùng IG thích xem video lắm luôn. Thực tế là vào năm 2018, số lượng video được tạo ra trên IG tăng 80% so với 2017.

Có nhiều marketers và doanh nhân xem video content là một phần thiết yếu, quyết định một chiến dịch truyền thông có thành công hay không.

TỔ CHỨC CUỘC THI – GIVEAWAYS

Tớ không tự tin vào nhan sắc của bản thân, nhưng tớ tự tin khẳng định là ai mà chẳng thích những thứ miễn phí. Có điều việc đó có ý nghĩa gì với tài khoản IG của cậu?

Đơn giản cực, sự khoái cảm của việc có thể chiến thắng một cái gì đó luôn luôn tồn tại trong lòng mỗi người, vì vậy cậu có thể tổ chức một cuộc thi hoặc giveaways để chạm vào insight đó của mọi người. Hơn thế nữa, cậu còn có thể tiếp cận được một số lượng không nhỏ các đối tượng mục tiêu của bên cậu nữa. Tất cả những gì cậu cần làm là tìm một cuộc thi phù hợp, quà tặng giveaways phù hợp và đăng nó lên Instagram.

SỬ DỤNG OMNICHANNEL MARKETING

Vậy Omnichannel Marketing là gì?

Ommichannel có nghĩa là bán hàng đa kênh trên cùng một nền tảng và hướng đến thống nhất, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Hay như brandsvietnam định nghĩa thì, đây chính là việc người kinh doanh bán hàng trên các kênh khác nhau (như mạng xã hội, website, gọi điện thoại cho đến các ứng dụng trên smartphone) theo một cách nhất quán, liên tục trên tất cả các thiết bị có thể tiếp cận được với khách hàng, giúp quá trình mua hàng của khách thuận tiện, hiệu quả, tối ưu dù mua qua bất cứ hình thức nào. Là thành viên mới, sau traditional, digital và social marketing, omnichannel marketing được coi là công cụ để tăng doanh số nhanh nhất.

That’s all for today!

Mô hình kinh doanh B2B là gì và có gì đặc biệt vậy nhỉ?

B2B là gì?

B2B là viết tắt của Business To Business. Đúng như tên gọi của nó, B2B là hình thức kinh doanh, buôn bán, giao dịch trực tiếp của các doanh nghiệp với nhau. Ví dụ như nhà phân phối (producers) với các nhà bán buôn (wholesalers), hay từ nhà bán buôn đến các nhà bán lẻ (retailer).

B2B khác với B2C (Business To Customer). Nếu như người mua trong B2C là những người bị chi phối bởi cảm xúc khi mua hàng. Thì trong B2B, người mua hàng không bị chi phối bởi cảm xúc khi mua hàng. Thay vào đó, người mua hàng ở đây là các doanh nghiệp khác mua hàng có tính logic, họ cân nhắc rất nhiều đến các yếu tố đi kèm chứ không chỉ mỗi tính ưu việt của sản phẩm. Không chỉ thế, quyết định mua hàng thường được cân nhắc bởi một đội ngũ chứ không phải một cá nhân, vậy nên thời gian ra quyết định mua hàng cũng sẽ lâu hơn.

Những thuận lợi của B2B:

B2B mang lại khả năng dự đoán và tính lâu dài:

B2B thường chỉ kí hợp đồng khi mà được thoả mãn về mặt giá cả và các điều khoản hợp đồng có lợi với họ. Vì lẽ đó, các hợp đồng thường kéo dài khá là lâu, từ 1 năm và thậm chí còn hơn thế nữa. Bên cạnh đó, vì tất cả đều có hợp đồng, giấy trắng mực đen nên việc dự trù ngân sách và thu nhập sẽ chính xác và dễ dàng hơn rất nhiều.

B2B Mang đến sự trung thành:

Sau khi tìm được một nhà phân phối mang đến giá cả và điều khoản hợp đồng kèm theo hợp lý, các doanh nghiệp thường sẽ không “dư dả” cả về thời gian và tiền bạc đến mức thường xuyên thay đổi những nhà phân phối của mình. Thay vào đó, họ sẽ hợp tác lâu dài miễn là bên kia vẫn mang lại cho họ lợi nhuận xứng đáng. Nói cách khác, miễn là vẫn giữ được trách nhiệm của bản thân thì sự trung thành là điểm mạnh to lớn trong B2B.

E-commerce B2B

Ngày nay, các doanh nghiệp đang ngày càng chau chuốt website của mình vì đây chính là một trong những nơi tiếp cận, tương tác đến khách hàng mục tiêu của họ dễ dàng nhất. Bên cạnh đó, sự ra đời của nhiều sàn giao dịch thương mại điện tử đóng vai trò cầu nối lại càng giúp phát triển mô hình này.

Doanh nghiệp đang càng ngày càng chú trọng B2B e-commerce

89% nhà nghiên cứu B2B sử dụng internet trong quá trình tìm kiếm thông tin. 30% số doanh nghiệp kí hợp đồng thu mua một nửa hoặc hơn số sản phẩm đã mua qua mạng và 56% được cho là sẽ thu mua online nhiều hơn trong 3 năm (Theo số liệu của Forrester – công ty nghiên cứu thị trường của Hoa Kì).

Email marketing ưu việt rõ nét trong B2B:

Email marketing theo như một thống kê của Mailchimp, nếu như tỉ lệ mở email marketing thông thường rơi vào khoảng từ 10% – 25%, thì trong B2B, tỉ lệ mở email lên đến 40%. Rõ ràng việc sử dụng email để liên hệ tới các khách hàng mục tiêu trong B2B là vô cùng hữu hiệu.

Bên cạnh đó, việc kết hợp với xu hướng cá nhân hoá cũng tạo nên một ưu thế nhất định khi sử dụng email marketing trong B2B.

Vậy B2B marketing khác B2C marketing như thế nào?

Sự thật là vẫn có những công ty làm tốt cả B2C và B2B marketing cùng lúc. Dell là một ví dụ tiêu biểu. Tuy nhiên sự khác biệt là vẫn tồn tại.

Người mua ít hơn và lý tính hơn

Sẽ là một điều rất bình thường kể cả khi một công ty B2B rất lớn có chưa đến 100 khách hàng. Việc mua bán đối với các doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi một đội ngũ chứ không phải chỉ một người như B2C. Chính vì vậy, việc mua bán sẽ được quyết định lý tính hơn rất nhiều. người mua của B2C thường có xu hướng cảm xúc, mong muốn nhất thời. Trong B2B không được có xu hướng như vậy. Họ mua thứ họ cần để có lợi nhuận chứ không phải thứ họ muốn.

Yêu cầu của người mua B2B sẽ ít hơn:

Một trong những lý do tiêu biểu nhất là vì số lượng người mua của mô hình này ít hơn rất nhiều so với B2C. Trong B2C có quá nhiều khách hàng tiềm năng vậy nên những các yêu cầu đi kèm từ đó cũng tăng lên.

Thường thì trong thị trường B2B, người ta sẽ chú ý đến các yếu tố chất lượng, giá cả, thiết lập quan hệ và dịch vụ đi kèm là chủ yếu

Người mua trong B2B mua hàng dài hạn

Đối với mô hình B2B, người mua sẽ là các long-term buyers, họ ký hợp đồng mua sản phẩm trong một thời gian dài và thường lặp đi lặp lại. Miễn là những yêu cầu của họ vẫn được đáp ứng đầy đủ. Các nhà cung cấp cũng rất chú trọng đến việc đáp ứng nhu cầu của bên mua, do ít khách hàng B2B mà độ cạnh tranh thì lại cao vô cùng.

Lời kết:

Đây là một chút chia sẻ những hiểu biết của mình về B2B. Mình đã tìm hiểu từ một số nguồn tài liệu cả trong và ngoài nước. Hy vọng các bạn sẽ bỏ qua nếu còn sai sót gì.

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu